TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 237/2024/DSST Ngày 06 tháng 9 năm 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
2. Ông Trần Đức Lưu
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh
Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Đào Linh Trang– Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 108/2024/TL-DSST ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2024/QÐST - DS ngày 22 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 169/QÐST-HPT ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Đỗ Hải A, sinh năm 1994. Hộ khẩu thường trú: Tổ 20 phường M, quận C, thành phố Hà Nội và bà Quản Thùy L, sinh năm 1995. Hộ khẩu thường trú: Tổ A phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Bà Quản Thùy L ủy quyền cho ông Đỗ Hải A theo Giấy ủy quyền ngày 26/12/2024 tại Văn phòng C. Ông Hải A có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Bà Hà Thị Kim L1, sinh năm 1962. HKTT và nơi cư trú: Số A ngõ A N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Bà L1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, cũng như các bản khai tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Bà Hà Thị Kim L1 là chủ sở hữu của nhà đất tại địa chỉ: số A ngõ A phố N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội thuộc thửa đất số 28-1 + 28-4 +28- 5, tờ bản đồ số 41, diện tích 70,2m, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BU 535175. Thửa đất trên được thế chấp tại ngân hàng TMCP V – chi nhánh B- phòng G để đảm bảo cho khoản vay của bà Hà Thị Kim L1 và con trai bà L1 là anh Lê Quang M. Do bà L1 bị nợ xấu tại ngân hàng nên bà L1 có vay tiền của vợ chồng ông Hải A để tất toán khoản vay tại ngân hàng V1.
Ngày 14/6/2022, vợ chồng ông Hải A và bà L1 có ký hợp đồng vay tiền với số tiền là 3.800.000.000 đồng. Sau khi ký kết hợp đồng cho vay, ông Hải A đã chuyển khoản vào tài khoản của bà L1 tại Ngân hàng V1 số tiền 3.796.799.425 đồng và chuyển thêm vào tài khoản của bà L1 số tiền 3.300.000 đồng.
Ngày 22/6/2022, bà Liên tiếp t vay ông Hải A số tiền 200.000.000 đồng, ông Hải A đã chuyển số tiền trên vào tài khoản của bà L1 (có bảng sao kê kèm theo). Như vậy, tổng số tiền bà L1 vay ông Hải A là 4.000.099.425 đồng.
Bà L1 hẹn sẽ sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất địa chỉ thửa đất số 28-1 + 28-4 +28- 5, tờ bản đồ số 41, diện tích 70,2m, địa chỉ: số A ngõ A phố N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội để lấy tiền trả cho ông Hải A. Tuy nhiên trong quá trình sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người thân phát sinh vấn đề về thủ tục hành chính. Vì vậy, bà L1 kéo dài việc trả nợ cho ông Hải A.
Nay, ông Hải A đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc bà Hà Thị Kim L1 phải thanh toán ngay cho ông Đỗ Hải A và bà Quản Thùy L số tiền nợ gốc: 4.000.099.425 đồng và tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc là 20%/năm cho đến khi bà Liên thanh t1 xong toàn bộ khoản nợ cho ông Đỗ Hải A và bà Quản Thùy L.
Về án phí dân sự: Bà L1 phải chịu toàn bộ án phí.
Ngoài ra ông không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Tại phiên tòa, ông Hải A đề nghị Tòa án tính tiền lãi phát sinh đối với khoản vay của bà L1 theo mức lãi suất cho vay quá hạn của Ngân hàng TMCP V từ thời điểm tháng 4/2022 và mức lãi suất biến động từng thời kỳ đến phiên tòa xét xử sơ thẩm. Do bản chất của việc ông Hải A, bà L cho bà L1 vay tiền là để tất toán khoản vay quá hạn của bà L1 tại Ngân hàng TMCP V, nếu ông Hải A không cho bà L1 vay tiền thì bà L1 cũng phải chịu mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng TMCP V từ thời điểm tháng 4/2022 đến nay.
* Bị đơn: Bà Hà Thị Kim L1 trình bày:
Bà có vay ngân hàng TMCP V – chi nhánh B- phòng G, tài sản thế chấp là thửa đất số 28-1 + 28-4 +28- 5, tờ bản đồ số 41, diện tích 70,2m, địa chỉ: số A ngõ A phố N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BU 535175.
Khi đến thời gian trả nợ gốc cho ngân hàng, do gặp khó khăn về tài chính, nên nhân viên ngân hàng có trao đổi sẽ nhờ ông Đỗ Hải A chuyển khoản tiền để tất toán khoản vay này và thực hiện thủ tục xóa đăng ký thế chấp đối với bất động sản nêu trên. Theo đó, ông Đỗ Hải A cam kết sẽ nộp tiền vào ngân hàng và thực hiện thủ tục xóa đăng ký thế chấp trong 01 (một) tháng, bà L1 sẽ trả cho ông Đỗ Hải A số tiền 200.000.000 đồng để thực hiện tất cả thủ tục. Sau đó ông Hải A đã tự nộp tiền qua hình thức chuyển khoản cho Ngân hàng để tất toán khoản vay của bà L1. Sau đó ông Hải A có thông báo đã nộp vào tài khoản của ngân hàng số tiền 3.800.000.000 đồng. Số tiền ông Hải A trả nợ thay bà L1 tại ngân hàng được đảm bảo bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 28-1 + 28-4 +28- 5, tờ bản đồ số 41, diện tích 70,2m, địa chỉ: số A ngõ A phố N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Tại buổi hòa giải ngày 22/7/2024, bà L1 không tiếp tục ủy quyền cho ông Nguyễn Huy L2 và bà Lý Thị Hồng N theo Hợp đồng ủy quyền số 210/2024/HĐUQ-LG&HTKL ngày 01/4/2024.
Bà L1 đã nhận được Kết luận giám định số 207/KL-KTHS ngày 05/7/2024; Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của V2 - Bộ C1.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà L1 xác nhận có vay của anh Hải A số tiền 4.000.099.425 đồng, trong đó số tiền 3.796.799.425 đồng anh Hải A chuyển khoản vào tài khoản của bà L1 tại Ngân hàng TMCP V để bà L1 trả nợ cho ngân hàng. Ngoài ra, anh Hải A còn chuyển khoản vào tài khoản của bà L1 số tiền 3.300.000 đồng vào ngày 14/6/2022 và số tiền 200.000.000 đồng.
Do hiện nay bà L1 gặp khó khăn về kinh tế, vì vậy bà L1 có nguyện vọng trả cho anh Hải A số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng và số tiền lãi là 1.000.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà L1 không có yêu cầu hay đề nghị gì khác
Bà đã được Tòa án giải thích về yêu cầu phản tố, bà đã hiểu và không có yêu cầu phản tố.
Ngoài ra bà không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, nguyên đơn, bị đơn không hòa giải được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán quy định tại Điều 48 BLTTDS, cụ thể:
- Về thẩm quyền: Theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: Bà Hà Thị Kim L1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số A ngõ A N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Như vậy, việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 BLTTDS:
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của BLTTDS sửa đổi về phiên tòa sơ thẩm :
+ Chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định của BLTTDS.
+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
- Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 BLTTDS.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 BLTTDS.
Bị đơn đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Anh Đỗ Hải A và vợ là chị Quản Thùy L cho bà Hà Thị Kim L1 vay tiền thông qua hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng. Căn cứ vào lời khai của các đương sự tại Tòa án và Kết luận giám định số 207 ngày 05/7/2024 của V2 – Bộ C1 xác định có sự việc bà L1 vay của vợ chồng anh Hải A. Nhận thấy vợ chồng anh Đỗ Hải A, chị Quản Thùy L và bà Hà Thị Kim L1 thực hiện việc vay nhận tiền khi cả hai bên đều đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, mục đích và nội dung giao dịch không trái quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 117, 386, 393 BLDS năm 2015, nên có giá trị thực hiện.
Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn thống nhất tổng số tiền vay mượn là 4.000.099.425 đồng.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466 BLDS 2015.
* Đối với số tiền nợ lãi phát sinh theo yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ Kết luận giám định số 352/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của V2 - Bộ C1: Chữ ký tại lề dưới trang 1 so với chữ ký đứng tên Hà Thị Kim L1 dưới mục “BÊN VAY” tại trang 2 cùng trên Hợp đồng vay tiền và chữ ký của Hà Thị Kim L1 trên mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.
Như vậy, chưa đủ căn cứ để cho rằng bà L1 đồng ý với mức lãi suất tiền vay là 20%/năm, việc hai bên thỏa thuận lãi suất đối với số tiền vay là 20%/năm là không có căn cứ để chấp nhận. Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị tính lãi suất tiền vay theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng V1 tương ứng với thời gian mà bà Hà Thị Kim L1 vay ông Hải A và bà L. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu làm căn cứ để xác định mức lãi suất theo yêu cầu đối với khoản vay của bà L1. Vì vậy, xác định trường hợp này các bên không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả nên sẽ căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 để tính lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ, tức là lãi suất được xác định trong vụ án này là 10%/năm của khoản tiền vay.
Điều 468. Lãi suất
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc bà Hà Thị Kim L1 phải thanh toán cho vợ chồng anh Hải A và chị L toàn bộ số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng.
- Không chấp nhận mức lãi suất phát sinh đối với số tiền nợ gốc theo yêu cầu của Nguyên đơn. Bà Hà Thị Kim L1 phải trả nợ lãi phát sinh đối với khoản tiền vay là 10%/năm cho đến khi bà L1 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho anh Hải A và chị L.
Án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với một phần số tiền lãi chậm trả không được chấp nhận, Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Vụ án thụ lý theo đơn khởi kiện của ông Đỗ Hải A, bà Quản Thùy L đối với bà Hà Thị Kim L1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn là bà Hà Thị Kim L1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A ngõ A N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không có căn cứ để xem xét.
[2] Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp; các văn bản, tài liệu, chứng cứ do Toà án tiến hành thu thập, xác minh; đánh giá, xem xét các tài liệu khác. Hội đồng xét xử nhận định, đánh giá, kết luận về vụ án như sau:
Về tiền nợ gốc: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Hải A, bà Quản Thùy L yêu cầu bà Hà Thị Kim L1 có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 4.000.099.425 đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 14/6/2022.
HĐXX nhận thấy, đối với Hợp đồng vay tiền ngày 14/6/2022 bà L1 xác nhận không biết và không ký vào hợp đồng vay tiền ngày 14/6/2022 do ông Đỗ Hải A cung cấp. Bà L1 đề nghị Tòa án tiến hành giám định chữ ký và chữ viết của bà trong hợp đồng vay tiền ngày 14/6/2022 và ông Đỗ Hải A cũng đề nghị giám định dấu vân tay của bà L1 trong hợp đồng vay tiền ngày 14/6/2022.
Tại Kết luận giám định số 207/KL-KTHS ngày 05/7/2024 với nội dung: “Chữ ký, chữ viết đứng tên Hà Thị Kim L1 dưới mục “Bên vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết, chữ ký của Hà Thị Kim L1 trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người viết, ký ra”.
Tại Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của V2 - Bộ C1 với nội dung: “02 dấu vân tay ký hiệu số 01 và số 02 (tính từ trái qua phải) in dưới chữ ký ghi tên Hà Thị Kim L1, ở mục “BÊN VAY”, tại tờ số 02 của Hợp đồng vay tiền ghi ngày 14 tháng 6 năm 2022, bên cho vay ghi Đỗ Hải A, bên vay ghi Hà Thị Kim L1 đủ yếu tố giám định. Dấu vân tay ký hiệu số 01 với dấu vân tay in ở ô trỏ trái, dấu vân tay ký hiệu số 02 với dấu vân tay in ở ô trỏ phải trong chỉ bản ghi tên Hà Thị Kim L1, sinh ngày 07 tháng 02 năm 1962, nơi thường trú: 136 ngõ A N, B, Hà Nội là dấu vân tay của cùng một người.”
Tại Kết luận giám định số 325/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của V2 - Bộ C1 với nội dung: “Chữ ký thứ nhất tính từ trái sang tại lề dưới trang 1 mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Hà Thị Kim L1 dưới mục “Bên vay” tại trang 2 cung trên mẫu cần giám định và chữ ký của Hà Thị Kim L1 trên mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một người ký ra”.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hải A trình bày: Ngày 14/6/2022, ông Hải A đã chuyển cho bà L1 số tiền 3.800.000.000 đồng vào tài khoản của bà L1 tại Ngân hàng TMCP V theo chỉ định của bà L1, sau đó ông Hải A đã chuyển khoản thêm số tiền 3.300.000 đồng. Ngày 22/6/2022, bà L1 lại tiếp tục vay của ông Hải A số tiền 200.000.000 đồng. Tổng số tiền vay là: 4.000.099.425 đồng. Để đảm bảo cho việc vay nợ giữa ông Hải A và bà L1, bà L1 hẹn sẽ sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất địa chỉ địa chỉ: số A ngõ A phố N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội thuộc thửa đất số 28-1 + 28-4 +28- 5, tờ bản đồ số 41, diện tích 70,2m cho người thân để lấy tiền trả cho ông Hải A. Tuy nhiên trong quá trình sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người thân phát sinh vấn đề về thủ tục hành chính. Vì vậy, bà L1 kéo dài việc trả nợ cho ông Hải A.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà L1 cũng khẳng định có vay và đã nhận đủ số tiền 4.000.099.425 đồng từ ông Hải A như ông Hải A trình bày. Do đó, xác định giữa bà L1, ông Hải A, bà L có quan hệ vay nợ và số tiền vay là 4.000.099.425 đồng, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 21/5/2024, bà L1 trình bày: Hiện nay bà gặp khó khăn về kinh tế chưa thu xếp được để trả số tiền nợ gốc cho ông Hải A, bà L. Vì vậy, bà L1 có nguyện vọng trả cho ông Hải A số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng và số tiền lãi là 1.000.000.000 đồng và tại biên bản hòa giải ngày 22/7/2024, bà L1 có nguyện vọng trả cho ông Hải A số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng và số tiền lãi là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên yêu cầu này của bà L1 không được ông Hải A, bà L chấp nhận.
HĐXX nhận thấy, từ thời điểm ông Hải A, bà L cho bà L1 vay tiền, ông Hải A đã nhiều lần liên hệ cũng như đôn đốc bà L1 trả nợ, tuy nhiên bà L1 thường xuyên kéo dài cũng như trốn tránh việc trả nợ cho ông Hải A, bà L và đến thời điểm hiện nay bà L1 cũng chưa trả bất cứ khoản tiền nào cho ông Hải A, bà L. Việc bà L1 không trả được nợ cho ông Hải A, bà L đã xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hải A, bà L, nên ông Hải A, bà L khởi kiện yêu cầu trả khoản tiền nợ là hoàn toàn phù hợp và có căn cứ. Do dó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Hải A, bà L buộc bà L1 phải trả cho ông Hải A, bà L số tiền nợ gốc 4.000.099.425 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về lãi suất chậm thanh toán: Nguyên đơn đề nghị HĐXX tính tiền lãi phát sinh đối với khoản vay của bà L1 theo mức lãi suất cho vay quá hạn của Ngân hàng TMCP V từ thời điểm tháng 4/2022 và mức lãi suất biến động từng thời kỳ đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, số tiền lãi tạm tính đến ngày 06/9/2024 là: 1.670.637.041 đồng.
Theo kết luận giám định của V2 - Bộ C1 thể hiện: Trong hợp đồng vay tiền ngày 14/6/2022 tại trang 1 (có các nội dung về số tiền vay và mức lãi suất chậm thanh toán) thể hiện không phải là chữ ký của bà L1 và có dấu hiệu bị thay thế. Tuy nhiên, tại trang thứ 2 của hợp đồng lại thể hiện đây là chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của bà L1. Bà L1 cũng khẳng định không biết bà Quản Thùy L là ai cũng như không biết về hợp đồng vay tiền nêu trên.
HĐXX nhận thấy tại trang 1 (có các nội dung về số tiền vay và mức lãi suất chậm thanh toán) thể hiện không phải là chữ ký của bà L1 và có dấu hiệu bị thay thế. Tuy nhiên, việc bà L1 ký và điểm chỉ vào trang 2 của hợp đồng vay tiền thể hiện bà L1 phải biết và đồng ý về nội dung của trang 1 thì mới có thể ký và điểm chỉ như vậy.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 21/5/2024, bà L1 trình bày: Hiện nay bà gặp khó khăn về kinh tế chưa thu xếp được để trả số tiền nợ gốc cho ông Hải A, bà L. Vì vậy, bà L1 có nguyện vọng trả cho ông Hải A số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng và số tiền lãi là 1.000.000.000 đồng và tại biên bản hòa giải ngày 22/7/2024, bà L1 có nguyện vọng trả cho ông Hải A số tiền nợ gốc là 4.000.099.425 đồng và số tiền lãi là 500.000.000 đồng. Điều này khẳng định việc vay nợ giữa ông Hải A, bà L và bà L1 có thỏa thuận về lãi. Do hợp đồng vay tiền ngày 16/4/2022 không có giá trị pháp luật nên trong giấy vay tiền thỏa thuận lãi suất 20%/năm là không có căn cứ.
Mặc dù hợp đồng vay tiền ngày 16/4/2022 không có giá trị pháp luật tuy nhiên nội dung của hợp đồng cũng là căn cứ để xem xét áp dụng mức lãi suất chậm trả. Bản chất của việc vay nợ giữa ông Hải A, bà L và bà L1 là để bà L1 tất toán khoản vay quá hạn tại Ngân hàng TMCP V và giải chấp tài sản là nhà đất tại số A ngõ A N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội và bà L1 cũng khẳng định mục đích vay tiền nêu trên. Mặt khác, khi chuyển tiền ông Hải A cũng trực tiếp chuyển tiền vào tài khoản vay của bà L1 tại Ngân hàng để bà L1 thực hiện trả nợ cho ngân hàng. Mặc dù, ông Hải A, bà L và bà L1 không lập cam kết về việc vay nợ trên là để ông Hải A thực hiện nghĩa vụ thay cho bà L1 tại ngân hàng nhưng phải hiểu bản chất của việc vay tiền này là ông Hải A thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bà L1 tại ngân hàng. Vì nếu ông Hải A không trả nợ thay cho bà L1 thì bà L1 sẽ phải chịu mức lãi suất cho vay quá hạn của Ngân hàng TMCP V từ thời điểm ngày 16/4/2022 cho đến khi bà L1 tất toán khoản vay. Vì vậy, bà L1 phải thực hiện nghĩa vụ về nợ gốc và lãi đối với những gì bà L1 được hưởng từ việc ông Hải A trả nợ thay mà lẽ ra bà L1 phải thực hiện với ngân hàng.
Do đó việc nguyên đơn đề nghị Tòa án tính tiền lãi phát sinh đối với khoản vay của bà L1 theo mức lãi suất cho vay quá hạn của Ngân hàng TMCP V từ thời điểm tháng 4/2022 và áp dụng lãi suất biến động từng thời kỳ đến phiên tòa xét xử sơ thẩm là có căn cứ để chấp nhận.
Xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất là đúng pháp luật và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, việc ông Hải A, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán trả nguyên đơn số tiền nợ lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất cho vay quá hạn và biến động lãi suất từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP V từ ngày 14/6/2022 đến ngày 06/9/2024 là: 1.670.637.041 đồng là có căn cứ.
- Quan điểm trình bày của nguyên đơn có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
- Một phần đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
- Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Vì các căn cứ nhận định trên của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 40, khoản 1 Điều 147; Điều 203; 266, 271, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của ông Đỗ Hải A, bà Quản Thùy L đối với bà Hà Thị Kim L1.
- Buộc bà Hà Thị Kim L1 phải trả cho ông Đỗ Hải A, bà Quản Thùy L số tiền tạm tính đến ngày 06/9/2024 là: Nợ gốc 4.000.099.425 (Bốn tỷ, không trăm chín mươi chín nghìn, bốn trăm hai mươi lăm) đồng và tiền lãi chậm thanh toán từ 14/6/2022 đến ngày 06/9/2024 là: 1.670.637.041 (Một tỷ, sáu trăm bảy mươi triệu, sáu trăm ba mươi bảy nghìn, không trăm bốn mươi mốt) đồng. Tổng cộng là: 5.670.736.466 (Năm tỷ, sáu trăm bảy mươi triệu, bảy trăm ba mươi sáu nghìn, bốn trăm sáu mươi sáu) đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Hà Thị Kim L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 113.670.736 (Một trăm mười ba triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn, bảy trăm ba mươi sáu) đồng (chưa nộp).
- Ông Đỗ Hải A, bà Quản Thùy L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 112.000.000 (Một trăm mười hai triệu) đồng theo biên lai thu số 0005095 ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 06 tháng 9 năm 2024. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 237/2024/DSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 237/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
