Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 237/2024/HS-PT

Ngày 06 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;

Các Thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Nữ;

Ông Trần Vĩnh Yên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Lê Hoàng K (và đồng phạm); do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

*Bị cáo bị kháng nghị:

  1. Lê Hoàng K, sinh ngày: 05/11/1998, tại Đồng Nai; số CCCD: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số F, tổ A, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1959; gia đình có 02 anh, em, bị cáo nhỏ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  2. Trần Tuấn A (tên gọi khác là Đ), sinh ngày: 08/9/2000, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số C, tổ A, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm: 1972 và bà Phạm Thị P, sinh năm: 1976; gia đình có 02 anh, em, bị cáo lớn nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  3. Nguyễn Văn B (tên gọi khác là P1), sinh ngày: 20/6/2000, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số A, tổ E, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ chụp ảnh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm: (không rõ) và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1979; gia đình có 02 chị, em, bị cáo nhỏ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  4. Hoàng Ngọc K1, sinh ngày: 22/4/2003, tại Khánh Hòa; số CCCD: [...]; nơi đăng ký thường trú: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện nay: tổ D, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: rửa xe ô tô; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn L, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm: 1972; gia đình có 04 chị, em, bị cáo thứ ba; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  5. Lê Hà M1, sinh ngày: 14/7/1998, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú: thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện tại: Quốc lộ A, khu phố C, phường X, Thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V1, sinh năm: 1962 và bà Hà Thị Ngọc C2, sinh năm: 1966; gia đình có 03 chị, em, bị cáo nhỏ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  6. Phan Thanh N (tên gọi khác là M2), sinh ngày: 18/8/1994, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: tổ F, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Minh T, sinh năm: 1967 và bà Phan Thị Kim L1, sinh năm: 1972; gia đình có 02 chị, em; bị cáo nhỏ nhất; vợ: Ngô Thị Ngọc H2, sinh năm: 2002, có 01 con chung, sinh năm: 2021: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  7. Nguyễn Trương N1, sinh ngày: 13/01/2001, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: tổ D, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Vũ M3, sinh năm: 1973 và bà Trương Thị H3, sinh năm: 1977; gia đình có 02 anh, em; bị cáo lớn nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  8. Mai Thanh P2, sinh ngày: 11/3/2000, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số G, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn P3, sinh năm: 1981 và bà Huỳnh Thị T1, sinh năm: 1980; gia đình có 02 anh, em; bị cáo lớn nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  9. Nguyễn Thanh Q, sinh ngày: 10/4/2001, tại Đồng Nai; số CMND: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số D, tổ G, ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H4, sinh năm: 1969 và bà Bùi Thị L2, sinh năm: 1974; gia đình có 03 anh, em; bị cáo thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 03/9/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
  10. Nguyễn Minh T2 (tên thường gọi là Bé Đ1), sinh ngày: 23/11/1993, tại Đồng Nai; số CCCD: [...]; nơi đăng ký thường trú và cư trú: số C, tổ A, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng Y, sinh năm: 1952 và bà Trần Thị K2, sinh năm: 1958; gia đình có 03 anh, em (đã chết 01), bị cáo nhỏ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Ngày 28/12/2022 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

* Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Hoàng Ngọc K1: Ông Ngô Văn D là luật sư của Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ;

Địa chỉ: Số B, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo, luật sư D có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Khoảng 22 giờ ngày 01/5/2022, Lê Hoàng K, Nguyễn Trương N1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Trần Tuấn A và Tằng Tiểu B1 (là bạn gái K), sau khi ăn nhậu tại quán V2 (thuộc xã B) có rủ nhau đến quán K3 cũng thuộc xã B để hát. Lúc này K chở B1 về nhà lấy đồ, khi đi gần đến nhà bà Phạm Thị Liên H5 (trước đây là quán karaoke Huỳnh N2, nay đã ngừng hoạt động), K thấy một số thanh niên đang đứng trước nhà nên không dám chở B1 chạy ngang vì sợ bị chặn đường. K gọi điện thoại cho N1 và Tuấn A biết sự việc. N1 và Tuấn A nói lại cho K1, Q, P2, M1 biết việc của K và rủ cả nhóm đi đến ngã tư L (thuộc xã B) để gặp K. Trên đường đi, Tuấn A ghé vào quán N5 (thuộc xã B) gặp Nguyễn Minh T2 (là anh họ của Tuấn A) cho biết việc K là bạn của Tuấn A bị chặn đường và rủ T2 đi cùng thì T2 đồng ý. Lúc này, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B là bạn đang nhậu với T2 cũng đi theo.

Khi nhóm N1, K1, Q, P2, M1, Tuấn A, T2 đi đến ngã tư L gặp K thì K kể lại sự việc trên cho cả nhóm nghe và nhờ cả nhóm xuống gặp các thanh niên trên để nói chuyện thì cả nhóm đồng ý. K lấy xe chở B1 về nhà trước sau đó cả nhóm tập hợp trước nhà bà H5.

Khi nhóm N1, K1, Q, P2, M1, Tuấn A, T2, B, N đến nhà bà H5 thì xảy ra mâu thuẫn với nhóm Nguyễn Lập T3, Chướng Nghiệp H6, Trần Minh N3, Trần Thị Huỳnh M4 (con gái bà H5), Trần Thị Huỳnh N4 (là chị ruột M4), Trần Thị Tuyết T4 (là em ruột M4) đang ngồi ăn nhậu trong sân nhà. Lúc này, nhóm của K đứng ngoài đường, nhặt đá, cây, mảnh vỡ của chậu hoa có sẵn ở 02 bên đường ném qua cổng, hàng rào hướng về nhóm N3, T3, H6, M4, T4. Sau đó nhóm K phá được cửa cổng, tiếp tục xông vào trong sân nhà, dùng đá, mảnh vỡ của chậu hoa tiếp tục tìm kiếm tấn công nhóm của M4, trong đó:

  • - Lê Hoàng K đứng ở ngoài đường dùng đá, mảnh vỡ của chậu hoa ném về phía nhóm M4, N4, T4, T3, H6, N3 và tài sản ở trong sân nhà. Khi cửa cổng mở ra, K chạy vào trong sân, cầm mảnh vỡ của chậu hoa tiếp tục ném về phía nhóm của T3 và tài sản trong sân. Khiêm ném khoảng 10 viên đá và mảnh vỡ của chậu hoa các loại.
  • - Nguyễn Trương N1 ban đầu đứng ngoài cầm đá ném vào nhóm của N3 đang ở trong sân nhà. Khi cửa cổng bị phá, N1 cùng với K chạy vào trong sân nhà tiếp tục tìm nhóm của N3 để ném đá. N1 đã ném khoảng 06 đến 07 cục đá về phía nhóm của N3.
  • - Mai Thanh P2 đứng ở ngoài đường ném đá vào nhóm của N3 đang ở trong sân nhà, khi cổng nhà bị phá, P2 không đi vào trong sân. P2 ném khoảng 05 đến 06 cục đá vào trong sân nhà.
  • - Phan Thanh N khi thấy cổng nhà bà H5 mở ra, T2, K và nhiều người khác chạy vào trong sân nhà thì N cũng chạy theo và cầm theo 01 tấm gỗ ném về phía cửa nhà bà H5.
  • - Lê Hà M1 đứng ở ngoài đường ném đá vào nhóm của N3 đang ở trong sân nhà. M1 đã ném 03 cục đá vào trong sân nhà.
  • - Trần Tuấn A lúc đầu đứng ngoài cầm đá ném vào nhóm của N3 đang ở trong sân nhà. Khi cửa cổng bị phá, Tuấn A đi vào sân tìm nhóm của N3 để tiếp tục ném đá nhưng khi đến cổng thì dừng lại. Tuấn A đã ném khoảng 03 đến 04 cục đá về phía nhóm của N3.
  • - Hoàng Ngọc K1 đứng ở bên ngoài nhặt đá ném vào nhóm của N3 đang ở trong sân nhà. K1 đã ném 06 đến 07 cục đá vào trong sân nhà.
  • - Nguyễn Thanh Q lúc đầu đứng ngoài đường ném đá vào nhóm của N3 đang ở trong sân nhà. Khi cửa cổng bị phá, Q chạy đến đứng trước cửa cổng, tiếp tục nhặt đá ném vào trong sân nhà. Q ném khoảng 07 đến 09 cục đá.
  • - Nguyễn Văn B thấy nhóm Tuấn A cầm đá ném về phía nhóm của N3 đang ở trong sân nhà nên B có đi nhặt khúc gỗ ném về phía nhóm của N3, trúng vào hàng rào dội ra. B tiếp tục nhặt khúc gỗ trên ném thêm 01 lần nữa trúng vào hàng rào. Khi cổng nhà bị phá, B cũng chạy vào trong sân nhà thì nghe có người hô “Công an đến” nên B kéo N ra về.
  • - Nguyễn Minh T2 thấy Tuấn A, K, K1, B, N, Q, N1, P2, M1 nhặt đá ném vào nhóm người trong nhà thì T2 cũng la hét, chửi bới và nhặt đá ném theo. Sau khi cổng mở ra, T2 và N cùng B, K, N1 tiếp tục xông vào trong sân để tìm đánh nhóm người trong nhà nhưng không thấy nên T2 có lật đổ 01 bàn Inox trong sân.

Khi nhóm của K đang đập phá tài sản trong sân nhà bà H5 thì có người hô lên “Công an đến” nên cả nhóm bỏ chạy.

Trong lúc bị nhóm K tấn công, anh N3 bị thương ở vùng đầu, cằm và ngón tay phải được đưa đi Bệnh viện Đ2 cấp cứu. Một số đồ vật, tài sản trong sân nhà bị hư hỏng.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0720/TgT/2022 ngày 06/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Minh N3 là 07%.

Tại Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐG ngày 26/10/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

  • - Các bộ phận trên xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 48H1-173.44 gồm: Ốp nhựa bên hông trái bị vỡ kích thước 05cm x 17cm có giá trị: 210.000 đồng + Ốp nhựa trên đầu bên phải bị vỡ kích thước 10cm x 04cm có giá trị 124.545 đồng + Ốp nhựa bên phải phía sau có vết mài mòn kích thước 10cm x 02cm có giá trị 210.000 đồng + Ốp nhựa mặt nạ trước bên phải có vết mài mòn kích thước 17cm x 06cm có giá trị 150.909 đồng + Cụm ốp đèn xi nhan trước có vết mài mòn, có giá trị 126.364 đồng.
  • - Các bộ phận trên xe môtô biển số 60B6 - 531.38 gồm: Phần nhựa phía trên đuôi xe bị bể vỡ, kích thước 07cm x 05cm có giá trị 75.000 đồng + Cụm ốp đèn đuôi xe bị vỡ hoàn toàn có giá trị 330.000 đồng + Ốp nhựa sau bên phải bị nứt gãy kích thước 01cm x 07cm có giá trị 250.000 đồng + Bửng chắn gió phía trước bên trái có vết nứt gãy kích thước 10cm x 01cm có giá trị 240.000 đồng.
  • - Các bộ phận trên xe môtô biển số 59Z1-143.41: Phần ốp nhựa phía trước bên trái có vết nứt vỡ, kích thước 13cm x 03cm có giá trị 280.000 đồng.
  • - 02 chiếc ghế nhựa, loại ghế 04 chân có lưng dựa bị gãy có giá trị 130.000 đồng.
  • - La phông bằng thạch cao bị hỏng 01 phần kích thước 30x28cm có giá trị 150.000 đồng.
  • - Mái tôn bị thủng 01 lỗ kích thước 10cm x 10cm có giá trị 137.000 đồng.
  • - Khoen khóa cổng bị gãy, rời khỏi vị trí ban đầu có giá trị 50.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 2.463.818 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 cục đá hình trụ tròn dài 26cm, đường kính 10cm; 01 cục đá kích thước 23cm x 20cm; 01 cục đá kích thước 26cm x 10cm; 02 cục gạch ống 04 lỗ; 01 cục đá dài 0cm x 13cm; 01 cục đá kích thước 27cm x 18cm; 01 mảnh đá kích thước 22cm x 15cm; 01 cây gỗ tròn đường kính 03cm, dài 90cm; 01 cây gỗ vuông dài 1,2m; 01 tấm gỗ đường kính 26cm; 01 số mảnh đá nhỏ khác. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

Về trách nhiệm dân sự: Phan Thanh N, Nguyễn Văn B, Lê Hoàng K, Nguyễn Trương N1, Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Trần Tuấn A, Nguyễn Minh T2 đã bồi thường chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần cho anh Trần Minh N3 số tiền 60.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Phạm Thị Liên H5, Trần Thị Tuyết T4, Trần Thị Huỳnh M4, anh Nguyễn Lập T3, Chướng Nghiệp H6 số tiền 90.000.000 đồng nên không ai có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSCM ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện C, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Lê Hoàng K, Mai Thanh P2, Nguyễn Thanh Q, Nguyễn Trương N1, Trần Tuấn A, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Văn B, Phan Thanh N, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS).

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A(Đen), Nguyễn Trương N1,Nguyễn Minh T2(B), Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1,Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N (M) và Nguyễn Văn B (P4) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của BLHS;

Xử phạt: bị cáo Lê Hoàng K 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Trần Tuấn A 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T5) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trương N1 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T5) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Ngọc K1 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Lê Hà M1 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Mai Thanh P2 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh Q 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T2 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Phan Thanh N 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Hoàng K, Nguyễn Trương N1, Mai Thanh P2, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Minh T2, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Lê Hà M1 cho UBND phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng nghị:

- Ngày 19 tháng 4 năm 2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ về áp dụng pháp luật và hình phạt, theo hướng áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A, Nguyễn Trương N1, Nguyễn Minh T2, Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B.

4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; Cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo hình phạt tù và cho hưởng án treo là quá nhẹ, chưa nghiêm khắc, không có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung; bị hại không có mâu thuẫn gì với bị cáo, nhưng các bị cáo dùng gạch, đá ném vào nhà bị hại là phạm tội có tính chất côn đồ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A, Nguyễn Trương N1, Nguyễn Minh T2, Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B.

5. Quan điểm của Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo Hoàng Ngọc K1 tại phiên tòa phúc thẩm:

Xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Hoàng Ngọc K1 phạm tội không có tính chất côn đồ, bị cáo chỉ ở ngoài ném đá, không có vào trong nhà; bị cáo K1 không có tình tiết tăng nặng, có 04 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự; tại phiên tòa sơ thẩm, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/5/2022, các bị cáo Nguyễn Minh T2, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B, Lê Hoàng K, Nguyễn Trương N1, Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Trần Tuấn A đã có hành vi sử dụng đá, mảnh vỡ của chậu hoa, cây gỗ ném về nhóm người Trần Thị Huỳnh M4, Nguyễn Lập T3, Chướng Nghiệp H6, Trần Minh N3, Trần Thị Tuyết T4 khi đang ở trong sân nhà bà Phạm Thị Liên H5 gây thương tích cho anh N3 với tỷ lệ 07% và làm hư hỏng tài sản của bà Phạm Thị Liên H5, chị Trần Thị Tuyết T4, Trần Thị Huỳnh M4, anh Nguyễn Lập T3 với tổng trị giá là 2.463.818 đồng. Hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các bị cáo về 02 tội danh này; tuy nhiên, ngày 14/12/2022, anh Trần Minh N3 đã làm đơn rút yêu cầu khởi tố, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này của các bị cáo theo quy định;

Hành vi các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A, Nguyễn Trương N1, Nguyễn Minh T2, Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Về kháng nghị:

2.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đó là: các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i); phạm tội gây thiệt hại không lớn (điểm h); đã cùng nhau bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả cho các bị hại (điểm b); quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình (điểm s). Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Minh T2 có thân nhân là liệt sĩ, người có công với cách mạng; các bị cáo đều là dân lao động, có hoàn cảnh khó khăn, được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

* Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận được kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ về áp dụng pháp luật và hình phạt, theo hướng áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A (Đen), Nguyễn Trương N1, Nguyễn Minh T2 (B), Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N (M) và Nguyễn Văn B.

2.3. Về hình phạt:

Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên; trong vụ án này, xuất phát từ mâu thuẫn trước đó của Lê Hoàng K đối với nhóm người bị hại, đã có người đuổi đánh K ngày hôm trước nhưng K chạy thoát.

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/5/2022, khi K chở bạn gái đi ngang qua đường đã có người ném lon bia về phía K nhưng không trúng, K lo sợ bị đánh nên chở bạn gái đi đường vòng về nhà. Sự việc lo sợ của K là có căn cứ, vì khi quay lại đã nhìn thấy Nguyễn Minh T2 (B) bị 03 người thanh niên cầm dao chém và rút chạy vào nhà (quán K4). Mặc dù, nhóm bị hại không thừa nhận có hành vi dùng dao chém Nguyễn Minh T2 (B) trước, nhưng căn cứ vết thương và lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra trùng khớp với nhau khi thấy T2 bị nhóm bị hại chém (Bút lục 244 đến 265; 277 đến 281; 293 đến 298), thể hiện bị hại đã có hành vi vi phạm pháp luật trước; quá trình điều tra, truy tố T2 không yêu cầu khởi tố vụ án. Do vậy, các bị cáo phạm tội không có tính chất côn đồ.

Các bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo có nhân thân tốt; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo; Cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; là phù hợp quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.

[3] Về án phí:

Các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A, Nguyễn Trương N1, Nguyễn Minh T2, Mai Thanh P2, Lê Hà M1,Hoàng Ngọc K1,Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N,Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.

[5] Đối với phần trình bày của Người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

[2]. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A(Đen), Nguyễn Trương N1,Nguyễn Minh T2(B), Mai Thanh P2, Lê Hà M1, Hoàng Ngọc K1,Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N (M) và Nguyễn Văn B (P4) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Lê Hoàng K 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Trần Tuấn A 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T5) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trương N1 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T5) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Hoàng Ngọc K1 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Lê Hà M1 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Mai Thanh P2 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh Q 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh T2 08 (T5) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Phan Thanh N 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn B 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Hoàng K, Nguyễn Trương N1, Mai Thanh P2, Hoàng Ngọc K1, Nguyễn Thanh Q cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao các bị cáo Trần Tuấn A, Nguyễn Minh T2, Phan Thanh N, Nguyễn Văn B cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Lê Hà M1 cho UBND phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự.

[3]. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Lê Hoàng K, Trần Tuấn A, Nguyễn Trương N1, Nguyễn Minh T2, Mai Thanh P2, Lê Hà M1,Hoàng Ngọc K1,Nguyễn Thanh Q, Phan Thanh N,Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cẩm Mỹ;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Bảo (và xã Bảo Bình), huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai;
  • - Ủy ban nhân dân phường Xuân Tân, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/HS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 237/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội huỷ hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger