Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 237/2025/HS-ST

Ngày: 18/6/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tiến
2. Ông Lê Văn Luận
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Minh Phương– Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ – Kiểm sát viên
- Những người tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thế Q – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa;
Ông Nguyễn Văn Q1 – Kiểm sát viên VKSND thành phố Thanh Hóa

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu Trung tâm – Phòng xét xử hình sự Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa và điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam khu vực thành phố T, xét xử trực tuyến công khai sơ thẩm, vụ án hình sự, thụ lý số 227/2025/TLHS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 244/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn C, năm 1989 ( tên gọi khác); Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Phố S, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 04/12; Quốc tịch: Việt nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn N ( đã chết); Con bà: Lê Thị H, Sinh năm 1963; Gia đình bị can có 03 chị em, bị can là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2009 TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 4 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Năm 2015 TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 chuyển tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà Phân trại tạm giam khu vực thành phố T- Trại giam Công an tỉnh T.

2. Hà Đức C1 ( Tên gọi khác: Không), S năm 1991; Nơi đăng ký thường trú: Phòng 510 T5 Nhà 7 chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: P N19 D chung cư Đ, P. Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hà Văn C2 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; Vợ: Thái Thị Tuyết Đ, sinh năm: 1996; Có 02 con nhỏ, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

Tạm giữ từ ngày 09/01/2025 chuyển tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà Phân trại tạm giam khu vực thành phố T- Trại giam Công an tỉnh T.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 09/01/2025, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố T, tiến hành làm việc, xét nghiệm ma túy trong cơ thể đối với người nghi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn phường Đ, thành phố T, phát hiện Hà Đức C1 dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Đức C1 đầu thú, khai nhận: Tối ngày 06/01/2025, Lê Văn C gọi điện thoại cho Hà Đức C1 thống nhất C sẽ đến nhà C1 đưa tiền cho C1 mua ma túy hồng phiến để cùng nhau sử dụng. Trong lúc đợi C đến, C1 đã lấy các đồ vật có sẵn trong nhà tự chế thành 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy hồng phiến (gồm: 01 chai nhựa đục lỗ gắn ống nhựa và tờ tiền mệnh giá 1.000₫ cuộn tròn; nắp chai đục lỗ gắn ống hút nhựa) cùng giấy bạc, bật lửa để trên gác xép nhà C1 (P nhà A D Chung cư Đ, phường Đ, thành phố T). Một lúc sau, C đi đến nhà C1 và đưa cho C1 500.000₫ để C1 đi mua ma túy. C1 cầm tiền C đưa đi liên hệ mua được 05 viên ma túy hồng phiến. Sau đó C1 cất riêng trong túi quần 03 viên, cầm 02 viên mang về nhà và nói với C là chỉ mua được 02 viên.

Khi về đến nhà, C1 dẫn C lên gác xếp, bỏ ma túy hồng phiến lên mảnh giấy bạc, để sát ống nhựa gắn trên chai nhựa rồi dùng bật lửa đốt giấy bạc để C và Công hút khói hồng phiến qua chai nhựa. Trong lúc CC1 đang sử dụng ma túy hồng phiến thì có Lê Văn Q2 sinh năm 1993, trú tại số nhà A, L, phường Đ, thành phố T (bạn của C1) đến chơi. C1 mở cửa cho Q2 vào nhà rồi đưa Q2 lên gác xếp và hỏi ý kiến C về việc cho Q2 cùng sử dụng ma túy, C đồng ý. Sau đó, lần lượt Công đốt ma túy hồng phiến cho Q2, C1, C sử dụng. Mỗi người sử dụng được khoảng 2 - 3 lượt thì hết ma túy. Sau khi hút xong ma túy, CQ2 ra về. Một mình C1 ở lại trên gác xép và đến đêm cùng ngày, C1 lấy 03 viên ma túy hồng phiến còn lại đang để trong túi quần ra, một mình sử dụng hết 03 viên ma túy hồng phiến. Sử dụng xong, C1 cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào tủ kính trên gác xép.

Tại Bản kết luận giám định số 418/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Lê Văn Q2, Hà Đức C1, Lê Văn C gửi đến giám định.

Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Văn CHà Đức C1 đã đầu thú, thừa nhận hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.

Vật chứng thu giữ, xử lý:

01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, gắn sim 0968.875.xxx thu giữ của Lê Văn C; 01 (Một) chai nhựa, thân chai đục lỗ, nắp chai màu xanh gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 ống hút được cuộn từ tờ tiền mệnh giá 1.000VNĐ; 01 bật lửa ga; 01 đoạn ống nhựa dạng bút bi.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 119/2025/THA ngày 15/5/2025 giữa Công an với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về nguồn gốc số ma túy mà Lê Văn C, Hà Đức C1Lê Văn Q2 sử dụng tối ngày 06/01/2025, Công khai nhận: Sau khi nhận số tiền 500.000VNĐ của Lê Văn C, Hà Đức C1 một mình đi tìm mua ma túy nhưng không mua được nên quay về quán bánh mỳ nhà C1 ở địa chỉ E T, phường B, thành phố T mở cửa quán dọn dẹp. Tại đây, C1 gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không rõ lai lịch vào quán ăn bánh mỳ. Qua nói chuyện, biết người này có ma túy nên C1 đưa số tiền 500.000VNĐ cho người này để mua ma túy. Người này cầm tiền rồi đưa cho C1 01 (Một) túi nilon đựng 05 viên ma túy hồng phiến. Sau đó, người này đi đâu C1 không biết, còn C1 đóng cửa quán rồi đi về cùng CQ2 sử dụng ma túy. Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường B, thành phố T rà soát Camera, xác minh người bán ma túy cho C1 nhưng không xác định được người này. Ngoài lời khai của Hà Đức C1 không có thêm tài liệu, chứng cứ khác. Nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ tiếp tục xác minh làm rõ, để xử lý trong vụ án này.

Đối với Lê Văn Q2: Là người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà Hà Đức C1 vào tối ngày 06/01/2025. Quá trình điều tra xác định, hành vi của Q2 không cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan điều tra chuyển Phòng CSĐTTP về Ma túy - Công an tỉnh T, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn Q2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết để theo dõi và quản lý.

Đối với bị cáo Hà Đức C1: Sau khi kết thúc việc sử dụng ma túy cùng Lê Văn CLê Văn Q2 đến đêm cùng ngày thì C1 lấy 03 viên ma túy hồng phiến đã cất giấu trước đó ra và một mình sử dụng hết tại nhà C1. Hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, là độc lập, không nằm trong chuỗi hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” do Lê Văn CHà Đức C1 đã thực hiện trước đó. Do đó Cơ quan điều tra chuyển Phòng CSĐTTP về Ma túy - Công an tỉnh T, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Đức C1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với chiếc điện thoại di động Hà Đức C1 dùng liên lạc với Lê Văn C ngày 06/01/2025: Công khai ngày 07/01/2025 chiếc điện thoại trên đã bị rơi, vỡ nên C1 vứt đi. Cơ quan điều tra đã khám xét, truy tìm nhưng không thu giữ được điện thoại di động của C1.

Tại bản cáo trạng số 160/CTVKSTPTH ngày 13/ 5/ 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố Lê Văn CHà Đức C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 1, Đ1 a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn CHà Đức C1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Mức hình phạt Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, đề nghị áp dụng đối với các bị cáo:

Lê Văn C: Từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Hà Đức C1: Từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) chai nhựa, thân chai đục lỗ, nắp chai màu xanh gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga; 01 đoạn ống nhựa dạng bút bi.

tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 ống hút được cuộn 01 tờ tiền mệnh giá 1.000VNĐ; 01 điện thoại thu giữ của Lê Văn C.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật là 200.000₫.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện VKS.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội:

Vào tối ngày 06/01/2025, Lê Văn C hẹn đến nhà Hà Đức C1 để đưa tiền cho C1 mua ma túy hồng phiến để cùng nhau sử dụng. Trong lúc đợi C đến, C1 đã lấy các đồ vật có sẵn trong nhà tự chế thành 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy hồng phiến (gồm: 01 chai nhựa đục lỗ gắn ống nhựa và tờ tiền mệnh giá 1.000đ cuộn tròn; nắp chai đục lỗ gắn ống hút nhựa) cùng giấy bạc, bật lửa để trên gác xép nhà C1 (P nhà A D Chung cư Đ, phường Đ, thành phố T). Một lúc sau, C đi đến nhà C1 và đưa cho C1 500.000₫ để C1 đi mua ma túy. C1 cầm tiền C đưa đi liên hệ mua được 05 viên ma túy hồng phiến. Sau đó, C1 cất riêng trong túi quần 03 viên, cầm 02 viên mang về nhà và nói với C là chỉ mua được 02 viên. Khi về đến nhà, C1 dẫn C lên gác xếp, bỏ ma túy hồng phiến lên mảnh giấy bạc, để sát ống nhựa gắn trên chai nhựa rồi dùng bật lửa đốt giấy bạc để C và Công hút khói hồng phiến qua chai nhựa. Trong lúc CC1 đang sử dụng ma túy hồng phiến thì có Lê Văn Q2 đến chơi. C1 mở cửa cho Q2 vào nhà rồi đưa Q2 lên gác xếp và hỏi ý kiến C về việc cho Q2 cùng sử dụng ma túy, C đồng ý. Sau đó, lần lượt Công đốt ma túy hồng phiến cho Q2, C1, C cùng sử dụng. Mỗi người sử dụng được khoảng 2 - 3 lượt thì hết ma túy. Sau khi hút xong ma túy, CQ2 ra về. Kết quả giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của Lê Văn Q2, Hà Đức C1, Lê Văn C.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa, truy tố các bị cáo Lê Văn CHà Đức C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng và hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần xử lý nghiêm.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và vai trò của các bị cáo:

Về vai trò: Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lê Văn C khởi xướng, nên có vai trò cao hơn bị cáo Hà Đức C1.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo và đầu thú hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không

[5]. Về hình phạt:

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

Do các bị cáo phạm tội có tính đồng phạm, nên cần áp dụng Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 (Một) chai nhựa, thân chai đục lỗ, nắp chai màu xanh gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga; 01 đoạn ống nhựa dạng bút bi, không còn giá trị sử dụng, nên áp dụng Khoản1 Điểm c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu xanh gắn kèm sim thu giữ của Lê Văn C và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000VNĐ dùng để cuộn ống hút thu của Hà Đức C1 là công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội. Nên áp dụng Khoản1 Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 1, Đ1 a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Khoản 1 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ1 a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn CHà Đức C1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Xử phạt:

Lê Văn C 08 (T) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2025 (ngày tạm giữ).

Hà Đức C1 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2025 (ngày tạm giữ).

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chai nhựa, thân chai đục lỗ, nắp chai màu xanh gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga; 01 đoạn ống nhựa dạng bút bi.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, gắn sim thu giữ của Lê Văn C và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000VNĐ dùng cuộn ông hút thu của Hà Đức C1.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 119/2025/ THA ngày 15/5/ 2025 giữa Công an tỉnh T với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 237/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C + Ha Đức C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger