|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 237/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2025. V/v: "Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Thưởng.
2. Ông Nguyễn Văn Hơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2025/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST – DS ngày 11 tháng 6 năm 2025 giữa:
1.Nguyên đơn:
Ông Đặng Quang C, sinh năm 1969.
Địa chỉ: ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2.Bị đơn:
Bà Võ Thị S, sinh năm 1965.
Địa chỉ: ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải, đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn ông Đặng Văn C1 lời trình bày:
Vào năm 2018, ông và bà Võ Thị S có tiến tới hôn nhân do quen biết và tự nguyện sống chung với nhau vì là vợ chồng chấp nối, ông đã có một đời vợ, bà S đã có một đời chồng, không tổ chức lễ cưới theo phong tục dịa phương nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 26/11/2020. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc được khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ không trung thực về mặt quản lý tiền bạc từ đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện ông sống tại ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre, bà S chuyển về sống cùng cha mẹ tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Hiện tình cảm vợ chồng không còn vì vậy ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân và việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Ông C yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà S, ông không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo văn bản trình bày ý kiến, biên bản hòa giải, đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn bà Võ Thị S lời trình bày
- Về quan hệ hôn nhân: Bà thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về điều kiện hai bên kết hôn, thời gian đăng ký kết hôn. Bà và ông S sống chung hạnh phúc nhưng đến năm 2024 do không đủ tiền chi tiêu trong gia đình nên bà có lấy số vàng chung của vợ chồng đem đi cầm chi tiêu trong gia đình mà không báo cho ông C biết chứ không sử dụng riêng cho cá nhân bà đến khi ông C phát hiện thì vợ chồng thường xuyên xích mích, mâu thuẩn và vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay, trong thời ly thân hai bên không hàn gắn được tình cảm, qua hòa giải ông C cương quyết ly hôn, không chịu hàn gắn tình cảm nhưng do còn thương ông C nên bà không đồng ý ly hôn.
Đặt trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì bà có ý kiến như sau:
- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về tố tụng:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng tự nguyện có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng qui định.
[2]. Về nội dung:
Nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre vào năm 2018, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Theo nguyên đơn sau khi kết hôn, thời gian đầu sống chung hạnh phúc được khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ không trung thực về mặt quản lý tiền bạc từ đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn, bà S cũng thống nhất bà và ông S sống chung hạnh phúc nhưng đến năm 2024 do không đủ tiền chi tiêu trong gia đình nên bà có lấy số vàng chung của vợ chồng đem đi cầm chi tiêu trong gia đình mà không báo cho ông C biết, đến khi ông C phát hiện thì vợ chồng thường xuyên xích mích, mâu thuẩn và vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay, trong thời ly thân hai bên không hàn gắn được tình cảm. Hội đồng xét xử nhận định nguyên đơn cương quyết ly hôn, bị đơn biết ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân, dù không muốn ly hôn nhưng cả hai bên không có các biện pháp tích cực nhằm cải thiện tình trạng hôn nhân, kéo dài mối quan hệ hôn nhân trong thời gian sống ly thân nhau như vậy tình trạng hôn nhân của cả hai đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần thiết phải chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn là do sự tự nguyện của cả hai vì vậy cần ghi nhận.
Về con chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày không có con chung vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày không có tài sản chung chung vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn trình bày không có tài sản chung vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, nguyên đơn ông C phải có nghĩa vụ chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008987 ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 3 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn C2.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Văn C2 được ly hôn với bà Võ Thị S.
- Về con chung: Không Có.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Văn C2 phải có nghĩa vụ chịu số tiền 300.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008987 ngày 04 tháng 4 năm 2025 0005754 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Cường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đinh Hồ Mỹ Ngọc |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Gia Ảnh |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Chí Cường |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TÒA
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Đào Chí Cường |
4
Bản án số 237/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 237/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chinh - sáu
