|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 237/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2025.
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình,
ly hôn, con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Hữu Danh;
2/ Bà Lê Bích Loan.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện AH xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 395/2025/QĐXXS-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 452/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Tổ 30, ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Tổ 30, ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà H có đơn yêu cầu vắng mặt. Ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2025 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Đỗ Thị H trình bày: Hôn nhân giữa bà H và ông P là do tự tìm hiểu đi đến sống chung và có đăng ký kết hôn tại xã N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cải nhau trong suốt thời gian dài và đã không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, đời sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà và ông P có 04 con chung tên Lê Thị Bích N, sinh ngày 17/3/1997, Lê Thành K, sinh ngày 01/01/1999, Lê Thị Bảo N, sinh ngày 18/11/2013, Lê Thành Đ, sinh ngày 01/11/2018. Cháu Bảo N, cháu Đ đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dạy cháu Bảo N, cháu Đ, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Bích N, cháu K đã trưởng thành và tự lập được không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thông báo thụ lý, hòa giải cũng như thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông P theo quy định nhưng ông P vắng mặt không lý do.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/5/2025 được cháu Lê Thị Bảo N, Lê Thành Đ cho biết: Cháu là con của ông Lê Thanh P và bà Đỗ Thị H, cháu thấy cha mẹ cháu đã không còn sống chung đã lâu, hiện cháu đang sống chung với mẹ, điều kiện của cháu rất tốt và cho ăn học đầy đủ, nay mẹ cháu (bà H) ly hôn với cha cháu (ông P) cháu có nguyện vọng sống với mẹ.
Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2025 được ông Công an xã N cho biết: Hiện ông Lê Thanh P, sinh năm: 1978 vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại biên bản xác minh ngày 16/6/2025 được ông Lê Văn Pho cho biết: Ông là cha ruột của ông P, bà H là dâu. Hôn nhân giữa ông P và bà H là do tự tìm hiểu đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn ông P về nhà bà H sống với nhau được 04 đứa con rồi không còn chung sống với nhau, thời gian không còn chung sống khoảng 3 năm nay, hiện ông P đã đi làm thuê ở Đồng Nai. Việc ly hôn của bà H và ông P, ông không có ý kiến.
Tại phiên tòa, bà H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, riêng ông P vắng mặt lần 2.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Đỗ Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh P. Đồng thời, ông P có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu vắng mặt, ông P vắng mặt lần 2 không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông P theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà H và ông P có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của bà H ly hôn với ông P thì thấy: Thời gian ly thân giữa bà H và ông P đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, điều nay cũng phù hợp với biên bản ngày 16/6/2025 mà Tòa án thu thập được. Do vậy có căn cứ cho thấy mục đích hôn nhân giữa bà H với ông P không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, do đó yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Bà H và ông P có 04 con chung. Cháu Lê Thị Bảo N, Lê Thành Đ, các cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà H, bà H cũng có nguyện vọng nuôi cháu Bảo Ngân, Đạt. Do đó để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu Bảo N, Đ sau này được tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 18/11/2013, Lê Thành Đ, sinh ngày 01/11/2018 cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.
Riêng cháu Bích N và cháu K đã trưởng thành và tự lập được nên không xem xét.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và không đề cập trong phần quyết định.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và không đề cập trong phần quyết định.
[7] Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 55, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị H được ly hôn với ông Lê Thanh P.
- Về con chung: Bà Đỗ Thị H được tiếp tục nuôi dạy cháu Lê Thị Bảo N, sinh ngày 18/11/2013, Lê Thành Đ, sinh ngày 01/11/2018, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0010510 ngày 06/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (bà H đã nộp đủ).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/6/2025). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Việt Quốc |
4
Bản án số 237/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, con chung
- Số bản án: 237/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H xin ly hôn với ông P
