Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 237/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20 tháng 08 năm 2025

V/v: Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Bùi Thị Hạnh

Ông Nguyễn Hà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hải Yến – Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân Khu vực 1 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 268/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 04 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 08 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hải A, sinh năm 1981;
  • - Bị đơn: Anh Phạm Vũ Q, sinh năm 1979;

HKTT: Số A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội (Nay là phường N, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A ngõ I V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội (Nay là phường N, thành phố Hà Nội).

Chị Hải A có mặt. Anh Q vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – chị Trần Thị Hải A trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Phạm Vũ Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội ngày 12/12/2008, số giấy 194.

Sau khi kết hôn chị và anh Q về chung sống tại phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Đến năm 2024, anh chị về sống tại địa chỉ số A ngõ I V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội và ở ổn định cho đến nay.

Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2024. Nguyên nhân là do anh Q thường xuyên đi giao lưu, uống rượu, hơn nữa, anh chị không thể nói chuyện được với nhau. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay.

Mâu thuẫn của anh chị, gia đình không biết, nên chị không thể mời đại diện gia đình hai bên lên Tòa án để ghi ý kiến về mâu thuẫn của anh chị. Thực tế, anh chị vẫn cư xử với hai bên gia đình như bình thường. Anh Q vẫn chăm sóc, lo toan cho bố mẹ chị như trước đây. Anh Q là người tốt, nhưng do chị cảm thấy vợ chồng đã mâu thuẫn không nói chuyện được với nhau nên chị mong muốn ly hôn với anh Q.

Chị không còn tình cảm với anh Q. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

- Về con chung: Chị và anh Q có 02 con chung là cháu Phạm Hà P, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Phạm Xuân P1, sinh ngày 10/01/2013. Hiện nay cả hai con đều đang sống cùng chị và anh Q. Hàng ngày, anh Q là người đưa đón các con đi học vì công việc của chị bận, chị thường xuyên đi làm về muộn. Hiện nay thu nhập của chị là 30.000.000đồng/tháng. Chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung. Chị không yêu cầu anh Q đóng góp nuôi con.

Chị không muốn cuộc sống của con anh chị bị xáo trộn nên chị đề nghị Tòa án không ghi ý kiến của con anh chị. Chị cũng không đồng ý đưa con lên Tòa án để ghi ý kiến.

  • - Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị và anh Q tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về các khoản vay nợ: Chị và anh Q không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí: Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Tại các lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Phạm Vũ Q trình bày:

- Về tình cảm: Anh và chị Trần Thị Hải A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội ngày 12/12/2008, số giấy 194.

Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Đến năm 2024, anh chị về sống tại địa chỉ số A ngõ I V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội và ở cho đến nay.

Trong quá trình chung sống, anh chị không có mâu thuẫn gì. Anh chị vẫn đang sống cùng nhau, cuộc sống vẫn bình thường. Do thời gian gần đây, anh bận công việc nên không dành được nhiều thời gian cho gia đình như trước, tuy nhiên anh vẫn quan tâm, chăm sóc vợ và các con. Hàng ngày anh vẫn đưa đón các con đi học.

Anh nhận thấy vợ chồng không có mâu thuẫn. Vợ chồng anh vẫn cư xử hoàn toàn bình thường với gia đình hai bên.

Nay chị Hải A đề nghị giải quyết ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn. Đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn ly hôn của chị Hải A.

- Về con chung: Anh và chị Hải A có 02 con chung là cháu Phạm Hà P, sinh ngày 04/6/2010 và cháu Phạm Xuân P1, sinh ngày 10/01/2013. Hiện nay cả hai con đều đang sống cùng anh và chị Hải A.

Anh không muốn cuộc sống của con anh chị bị xáo trộn nên anh đề nghị Tòa án không ghi ý kiến của các con anh. Anh cũng không đồng ý đưa con lên Tòa án để ghi ý kiến. Anh không muốn các con tôi phải tách nhau ra. Các con anh còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc và dạy dỗ của cả bố và mẹ.

  • - Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Anh và chị Hải A tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về các khoản vay nợ: Anh và chị Hải A không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hải A; Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hải A nên các vấn đề về con chung và tài sản chung, nợ chung đề nghị không xem xét. Về án phí: Chị Hải A phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Hải A nộp đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Phạm Vũ Q. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Phạm Vũ Q là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại số A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội (Nay là phường N, thành phố Hà Nội) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội) theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục giải quyết vụ án: Bị đơn là anh Phạm Vũ Q đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh Q có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Q.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ và các chứng cứ do các đương sự cung cấp và các chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Chị Trần Thị Hải A và anh Phạm Vũ Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội ngày 12/12/2008, số giấy 194. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo chị Hải A trình bày: Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2024. Nguyên nhân là do anh Q thường xuyên đi giao lưu, uống rượu, hơn nữa, anh chị không thể nói chuyện được với nhau. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay. Chị cảm thấy vợ chồng đã mâu thuẫn không nói chuyện được với nhau nên chị cũng không còn tình cảm với anh Q và mong muốn ly hôn với anh Q.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình thu thập chứng cứ cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Hải A không chứng minh được việc chị Hải A và anh Q mâu thuẫn với nhau như thế nào. Hơn nữa, mâu thuẫn của anh chị, gia đình hai bên không biết. Chị Hải A đã có đơn yêu cầu Tòa án không xác minh mâu thuẫn vợ chồng tại tổ dân phố nơi cư trú của anh chị và cũng yêu cầu Tòa án không ghi lời khai về ý kiến của các con. Ngoài ra, chị Hải A và anh Q đều xác định chị Hải A và anh Q vẫn còn sống chung nhà. Anh Q trình bày: anh và chị Hải A vẫn hạnh phúc, cuộc sống vẫn bình thường, không có mâu thuẫn gì.

Xét thấy, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp nghĩa vụ chứng minh”.

Quá trình giải quyết vụ án, ngoài lời khai của chị Hải A, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc vợ chồng chị Hải A và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng đến mức không thể hàn gắn được. Ngược lại, anh Q xác nhận vợ chồng vẫn không có mâu thuẫn gì. Chị Hải A đề nghị Tòa án không thu thập chứng cứ về mâu thuẫn vợ chồng tại nơi cư trú cũng như gia đình hai bên. Do đó Hội đồng xét xử nhận định chưa có đủ việc yêu cầu xin ly hôn của chị Hải A là chưa có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hải A là phù hợp với qui định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và giai đình và Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về con chung và tài sản chung, nợ chung: Do Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hải A, đồng thời chị Hải A và anh Q cũng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề con chung, tài sản chung và nợ chung của các đương sự.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Hải A phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Hải A và anh Phạm Vũ Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 39 Bộ luật dân sự;
  • - Điều 51, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Hải A đối với anh Phạm Vũ Q.
  2. Về việc nuôi con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. - Về các khoản nợ: Tòa án không xem xét, giải quyết.

  5. Về án phí: Chị Trần Thị Hải A phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Hải A đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0031454 ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội).

Án xử công khai sơ thẩm, chị Trần Thị Hải A có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Vũ Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 1 – Hà Nội;
  • - Phòng THA DS Khu vực 1 – Hà Nội;
  • - UBND p. Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Sen

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HÀ NỘI về xin ly hôn

  • Số bản án: 237/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án xin ly hôn giữa chị A và anh Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger