Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2025/DS-PT

Ngày: 03/04/2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diệp Linh

Các Thẩm phán:

Bà Đặng Mai Hoa

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Ngô Phương Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 03 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 39/2025/TLST-DS ngày 10.02.2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 294/2025/QĐPT-HPTDS ngày 05 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B - BN, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh H.

Bị đơn: Anh Mè Quang H1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số D ngách A đường L, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 13/1/2020 anh Mè Quang H1 có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ của ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của anh Mè Quang H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 100.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh Mè Quang H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 445.994.452 đồng.

Trong qúa trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay anh Mè Quang H1 đã thanh toán tiền cho Ngân hàng số tiền: 386.850.000 đồng, thứ tự thanh toán (điều 20 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng anh Mè Quang H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do anh Mè Quang H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng), ngày 06/8/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (điều 24 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 12/01/2024 anh Mè Quang H1 còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 106.409.173đồng; Lãi quá hạn: 114.991.390 đồng; Tổng cộng: 221.400.563 đồng (hai trăm hai mốt triệu, bốn trăm nghìn, năm trăm sáu mươi ba đồng).

Mặc đù ngân hàng thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với anh Mè Quang H1 yêu cầu anh Mè Quang H1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để anh Mè Quang H1 trả nợ, tuy nhiên anh Mè Quang H1 vẫn chưa thanh toán khoản vay quá hạn cho Ngân hàng. Anh Mè Quang H1 vi phạm các điều khoản hợp đồng đã ký.

* Yêu cầu của nguyên đơn:

  1. Buộc anh Mè Quang H1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/01/2024 là 221.400.563 đồng (hai trăm hai mốt triệu, bốn trăm nghìn, năm trăm sáu mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc: Dư nợ gốc: 106,409,173đồng; Lãi quá hạn: 114.991.390 đồng.
  2. Anh Mè Quang H1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 13/1/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án đã tiền hành xác minh được biết anh Mè Quang H1 đang sinh sống thường xuyên tại địa chỉ số D ngách A đường L, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội, tống đạt các văn bản tố tụng của tòa án cho anh M Quang Huy thông qua tổ trưởng tổ dân phố hoặc người thân thích, anh Mè Quang H1 vắng mắt tại thời điểm tổ trưởng đến tống đạt. Do vậy, tòa án đã tiến hành niêm yết theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S1) đối với anh Mè Quang H1
  2. Buộc anh Mè Quang H1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S (S1) số tiền là 243.287.440 đồng (Bằng chữ: hai trăm bốn ba triệu, hai trăm tám mươi bảy nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng). Trong đó dư nợ là 106.409.173 đồng (nợ gốc: 99.966.520 đồng, lãi trong hạn và phí 6.442.653 đồng), lãi quá hạn: 136.878.267 đồng.

  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm hợp anh Mè Quang H1 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc. Trường hợp hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 25.09.2024, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn kháng toàn bộ bản án sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần S; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn anh Mè Quang H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng anh Mè Quang H1 vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt anh Mè Quang H1 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về số tiền nợ gốc: Ngày 13/1/2020 anh Mè Quang H1 có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ vào thu nhập của anh Mè Quang H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 100.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 445.994.452 đồng và thanh toán tiền cho Ngân hàng số tiền: 386.850.000 đồng, thứ tự thanh toán (điều 20 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Như vậy, tính đến ngày 20/09/2024, dư nợ gốc anh H1 phải trả 106.409.173 đồng; trong đó nợ gốc: 99.966.520 đồng, lãi trong hạn và phí 6.442.653 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[2.2] Về yêu cầu trả nợ lãi: Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, Điều 21 Thông tư 39/2016, Điều 12 Nghị quyết 01/2019 chỉ chấp nhận 1 phần yêu cầu của Ngân hàng, xác định số nợ quá hạn chỉ tính trên số nợ gốc là 99.966.520 đồng. Theo hợp đồng và biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng thì lãi suất áp dụng là 2,4%/tháng. Bản án sơ thẩm xác định tổng số tiền anh Mè Quang H1 phải thanh toán với ngân hàng đến ngày 20/9/2024 là 243.287.440 đồng. Trong đó dư nợ là 106.409.173 đồng (nợ gốc: 99.966.520 đồng, lãi trong hạn và phí 6.442.653 đồng.), lãi quá hạn: 136.878.267 đồng là có căn cứ.

Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội về việc xác định lại số tiền, gốc và lãi theo quy định của pháp luật.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 20.09.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
  3. Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã đóng tại biên lai số 0033679 ngày 25.09.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Hoàng Mai;
  • - Chi cục THADS quận Hoàng Mai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Diệp Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2025/DS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 237/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger