TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 237/2024/HSST Ngày : 21/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THANH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;
2/ Bà Trần Quang Cảnh;
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hô Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 230/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: NGUYỄN THỊ N; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1978 tại Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: G B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị E, sinh năm 1940; Chồng: Vũ Quốc H, sinh năm 1978; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024;
- Họ và tên: NGUYỄN VĂN C1; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1980 tại tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở: G B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1955 và bà Dương Thị G, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1982; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024;
- Họ và tên: LƯU HIỆP H2; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 7 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 77/18/34 C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ học vấn: Đại học; Nghề nghiệp: Giáo viên trường tiểu học P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Con ông (không rõ) và bà Lưu Ứng L, sinh năm 1970; Vợ: Đỗ Thị Thu H1, sinh năm 1994; Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2024;
(các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Cao Đình T1, sinh năm 1994, địa chỉ C Đường số F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;
(vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chi nhánh công ty TNHH C2 địa chỉ G B, phường S, quận T được đăng ký hoạt động lần đầu vào ngày 09/10/2014 do ông Nguyễn Cao V là người đứng đầu chi nhánh, ngành nghề hoạt động chính là kinh doanh trò chơi điện tử. Ngày 25/11/2019, Nguyễn Thị N được nhận vào làm nhân viên tại chi nhánh này. Đến ngày 06/10/2023, chi nhánh công ty được đăng ký thay đổi do Trần Cao Đình T1 là người đứng đầu. Ngày 01/11/2023, T1 đại diện công ty ký kết hợp đồng lao động với N và phân công nhiệm vụ cho N là quản lý việc kinh doanh dịch vụ trò chơi điện tử (bắn cá) tại chi nhánh địa chỉ trên. Ngoài mức lương là 5.010.000 đồng, sau khi trừ các khoản chi phí, Nơi sẽ được hưởng 70% doanh thu và nộp lại cho T1 30% doanh thu còn lại. Theo quy định, việc kinh doanh dịch vụ trò chơi điện tử (bắn cá) là trò chơi không được trả thưởng cho khách và N có làm bản cam kết với công ty không được tự ý quy đổi điểm thành tiền để trả cho khách. Tuy nhiên, do tình hình kinh doanh vắng khách nên Nơi tự ý cho khách đổi điểm trong máy thành tiền sau khi chơi với tỉ lệ quy đổi 01 điểm bằng 20 đồng (cùng tỉ lệ như khi khách nạp điểm vào máy để chơi).
Đối với Nguyễn Văn C1 có quen biết từ trước với Nguyễn Thị N nên được Nơi cho ở nhờ tại tiệm trò chơi bắn cá số G B trong thời gian tìm việc làm. Từ tháng 11/2023, C1 bắt đầu phụ giúp Nơi trông coi tiệm, nạp điểm và đổi điểm cho khách những lúc Nơi đi vắng hoặc khi Nơi yêu cầu. Thỉnh thoảng Nơi cho C1 tiền để tiêu xài (từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng) trích từ số tiền thu lợi bất chính từ khách chơi bắn cá. Khi khách đến chơi có thể đưa tiền mặt để nạp điểm hoặc có thể chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S số [...] của Nguyễn Văn C1; tài khoản ngân hàng S số [...] của Vũ Quốc H (chồng của N) và tài khoản ngân hàng T4 số 19038342063010 của Vũ Duy Q (con trai của N). Khi khách đổi điểm thì Nơi hoặc C1 sẽ đưa tiền mặt.
Quá trình điều tra xác định, từ tháng 11/2023 đến ngày 05/5/2024, N và C1 đã đánh bạc với Lưu Hiệp H2 bằng hình thức chơi game bắn cá đổi điểm thành tiền tại địa chỉ G B cụ thể như sau:
- Lần 1: Khoảng cuối tháng 11/2023, H2 đến tiệm trò chơi bắn cá trên và ngồi tại cần điều khiển số 2 của máy trò chơi điện tử bắn cá số 3 (từ cửa vào). Hên đề nghị nạp 50.000 điểm vào máy để chơi, do lúc này N không có ở quán nên C1 đã nạp điểm cho H2 và thu số tiền 1.000.000 đồng. Hên chơi thắng được 50.000 điểm và yêu cầu C1 đổi thành tiền là 1.000.000 đồng. Hên tiếp tục chơi thì thua hết số điểm còn lại trên máy nên lấy số tiền 1.000.000 đồng vừa thắng được đưa cho C1 để nạp thêm 50.000 điểm. Sau đó H2 chơi thua hết số điểm này và đi về;
- Lần 2: Ngày 06/2/2024 H2 đến tiệm trò chơi bắn cá trên thì gặp N. Hên đề nghị Nơi nạp 50.000 điểm tương đương số tiền 1.000.000 đồng. Do H2 không có tiền mặt nên N nói H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S số [...] do Nguyễn Văn C1 đứng tên chủ tài khoản. Sau đó, H2 dùng tài khoản ngân hàng T4 số 19035129139039 chủ tài khoản LUU HIEP HEN chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng trên. Sau đó, H2 chơi thắng được 100.000 điểm và đề nghị Nơi đổi 50.000 điểm thành số tiền 1.000.000 đồng. H2 tiếp tục chơi và thua hết số điểm còn lại trên máy rồi nói N nạp thêm 100.000 điểm tương đương số tiền 2.000.000 đồng. Lúc này, H2 chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng S của Nguyễn Văn C1. sau khi nạp điểm, H2 tiếp tục chơi và thua hết số điểm đã nạp. Hên tiếp tục yêu cầu Nơi nạp 150.000 điểm tương đương số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng số tài khoản trên để chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của C1. Sau đó, H2 thắng 100.000 điểm và đề nghị Nơi đổi thành số tiền 2.000.000 đồng rồi tiếp tục chơi thì thua hết số điểm còn lại. Lúc này, H2 nói Nơi nạp tiếp 100.000 điểm tương đương số tiền 2.000.000 đồng và đưa tiền mặt cho Nơi rồi tiếp tục chơi thì thua hết số điểm này nên đi về;
- Lần 3: Ngày 06/3/2024, H2 đến tiệm game bắn cá gặp N đưa số tiền 5.000.000 đồng và đề nghị nạp 250.000 điểm rồi chơi thắng được 250.000 điểm và đề nghị Nơi đổi 250.000 điểm thành số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, H2 chơi thua hết số điểm còn lại và yêu cầu Nơi nạp thêm 250.000 điểm tương đương số tiền 5.000.000 đồng, H2 lấy số tiền thắng được trả cho N. Sau khi nạp điểm, H2 chơi thua hết rồi tiếp tục nói Nơi nạp thêm 50.000 điểm tương đương số tiền 1.000.000 đồng. Do không còn tiền mặt nên H2 sử dụng tài khoản ngân hàng T5 19035129139039 chuyển vào tài khoản ngân hàng S số [...] của Nguyễn Văn C1 số tiền 1.000.000 đồng. Hên chơi tiếp và thua hết số điểm này nên đi về;
- Lần 4: Ngày 06/4/2024, H2 đến tiệm game bắn cá gặp N và đề nghị nạp 25.000 điểm tương đương số tiền 500.000 đồng. Hên sử dụng tài khoản T4 số 19035129139039 chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản S số [...] của Nguyễn Văn C1. Quá trình chơi Hên thua hết điểm và đề nghị N nạp thêm tiền để chơi tiếp, lần lượt nạp 50.000 điểm tương đương số tiền 1.000.000 đồng; 275.000 điểm tương đương số tiền 5.500.000 đồng; 200.000 điểm tương đương số tiền 4.000.000 đồng; 250.000 điểm tương đương số tiền 5.000.000 đồng. Các lần nạp điểm H2 đều sử dụng tài khoản T4 số 19035129139039 của H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S của C1. Xen giữa các lần thua thì H2 có 02 lần thắng điểm và đề nghị Nơi đổi tiền mặt: thắng được 50.000 điểm đổi được số tiền 1.000.000 đồng; thắng được 250.000 điểm đổi được số tiền 5.000.000 đồng;
- Lần 5: Ngày 29/4/2024, H2 đến tiệm game bắn cá đề nghị Nơi nạp 250.000 điểm tương đương số tiền 5.000.000 đồng. Hên chơi thua hết số điểm này và yêu cầu Nơi nạp tiếp 350.000 điểm tương đương số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó H2 chơi thắng được 500.000 điểm tương đương số tiền 10.000.000 đồng và đề nghị Nơi đổi tiền mặt. Hên chơi tiếp thì thua hết số điểm còn lại trong máy. Hên tiếp tục yêu cầu N nạp thêm 500.000 điểm tương đương số tiền 10.000.000 đồng và lấy số tiền 10.000.000 đồng thắng được đưa cho N. Hên tiếp tục chơi thì thua hết số điểm vừa nạp rồi đi về. Các lần nạp điểm này, H2 đều sử dụng tài khoản T4 của H2 chuyển tiền vào tài khoản T4 19038342063010 do Vũ Duy Q (do Nơi cho số tài khoản);
- Lần 6: Ngày 02/5/2024, H2 đến tiệm trò chơi yêu cầu Nơi nạp 625.000 điểm tương đương số tiền 12.500.000 đồng. Hên chơi thắng được 500.000 điểm tương đương số tiền 10.000.000 đồng. Hên tiếp tục chơi thì thua hết số điểm còn lại nên yêu cầu Nơi nạp tiếp 500.000 điểm tương đương số tiền 10.000.000 đồng rồi lấy số tiền 10.000.000 đồng thắng được đưa cho N và tiếp tục chơi thì thua hết nên đi về;
- Lần 7: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, H2 đến tiệm trò chơi và nói N nạp cho H2 350.000 điểm tương đương 7.000.000 đồng. Do không có tiền mặt nên H2 dùng tài khoản T4 của H2 chuyển vào tài khoản S của Nguyễn Văn C1. Sau đó, H2 chơi thua hết 350.000 điểm và yêu cầu Nơi nạp thêm 1.000.000 điểm tương đương 20.000.000 đồng. Lúc này, H2 nhắn tin cho vợ là Lỗ Thị Thu H3 giả vờ nói bị va chạm giao thông và phải đền bù cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, nghe vậy chị H3 chuyển vào tài khoản ngân hàng B số 3102699139 của H2 và H2 chuyển lại số tiền này vào tài khoản ngân hàng S của C1 thì chơi thua. Sau khi thua hết số tiền này thì H2 yêu cầu N nạp thêm cho H2 500.000 điểm tương đương 10.000.000 đồng và nói sẽ thanh toán sau thì N đồng ý. Sau khi chơi thua hết tiền này thì H2 tiếp tục nhắn tin cho chị H3 giả vờ nói bị hại không chịu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng mà phải bồi thường thêm 30.000.000 đồng nếu không sẽ bị giữ lại đồng thời chia sẻ vị trí nơi của H2 cho chị H3 và nói chị H3 tiếp tục chuyển cho H2 số tiền 30.000.000 đồng nhưng chị H3 nói không có tiền. Sau đó, chị H3 đã nói sự việc trên cho anh Nguyễn Tấn T2 là đồng nghiệp của H2 biết và nhờ anh T2 đi trình báo Công an. Đến khoảng 19 giờ 50 phút ngày 05/5/2024, anh T2 đã đến Công an phường S trình báo sự việc. Sau đó, Công an phường S đã đến G B, phường S, quận T thì phát hiện Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1, Lưu Hiệp H2 có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi game bắn cá quy đổi điểm thành tiền nên đã đưa tất cả về trụ sở Công an làm việc.
Ngoài ra, C1, N còn đánh bạc với Lê Ngọc T3 cụ thể: Ngày 23/2/2024 T3 đến tiệm trò chơi bắn cá 710 B phường S, quận T gặp Nguyễn Thị N. Tánh hỏi có cho đổi điểm không (tức thu điểm trong máy đổi thành tiền sau khi chơi) thì N trả lời có thu đổi điểm thành tiền với tỉ lệ 01 điểm bằng 20 đồng. Tánh đề nghị Nơi nạp 10.000 điểm tương ứng 200.000 đồng. Khoảng 10 phút sau, T3 chơi thua hết điểm và đi về. Ngày 30/3/2024, T3 tiếp tục đến tiệm T6 nói Nơi nạp 250.000 điểm tương ứng với 500.000 đồng. Khoảng 20 phút sau, T3 chơi thua hết điểm nên đi về.
Quá trình đánh bạc tại tiệm game bắn cá N đã thu lợi số tiền 70.000.000 đồng, C1 được Nơi trả công số tiền 1.300.000 đồng.
Như vậy, trong 07 lần đánh bạc trên thì có 06 lần Hên, N, C1 đánh bạc với số tiền trên 5.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 06/02/2024 đánh bạc số tiền 9.000.000 đồng; Ngày 06/3/2024 là 11.000.000 đồng; Ngày 06/4/2024 đánh bạc số tiền 16.000.000 đồng; Ngày 29/4/2024 đánh bạc số tiền 22.000.000 đồng; Ngày 02/5/2024 đánh bạc số tiền 22.500.000 đồng; Ngày 05/5/2024 đánh bạc số tiền 37.000.000 đồng;
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1, Lưu Hiệp H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng:
- Thu giữ của Nguyễn Thị N:
- + Một (01) máy trò chơi bắn cá kích thước 2m2 x 1m49 x 0,73m có vỏ bằng nhựa - kim loại, mặt bằng kính-mica, màu vàng, không có nhãn hiệu, là máy H2 sử dụng chơi bắn cá đổi điểm ăn tiền;
- + Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia có số Imeil: 352415901427439; số Imei2: 352415903427437, là điện thoại Nơi sử dụng liên lạc cá nhân;
- Thu giữ của Lưu Hiệp H2:
- + Một (01) điện thoại di động hiệu Vivo, màu đỏ, số Imei 1: 860062049457335; số Imei 2: 860062049457327, là điện thoại Hên sử dụng để liên lạc cá nhân;
- + Một (01) điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, số Imei 1: 353185442331627, số Imei 2: 358325552331620, H2 sử dụng để chuyển khoản tiền đánh bạc;
- Thu giữ của Nguyễn Văn C1:
- + Một (01) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi, số Imei 1: 864894065527443, số Imei 2: 864894065527450, C1 sử dụng để giao dịch chuyển khoản tiền đánh bạc;
- + Số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng là số tiền H2 chuyển vào tài khoản ngân hàng S số [...] của Nguyễn Văn C1, để N nạp điểm cho H2 chơi đánh bạc;
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 183/PNK ngày 05/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T (bút lục 344);
Tại phiên, toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản cáo trạng số 205/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1 và Lưu Hiệp H2 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Điều 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Điều 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 mức án 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 35; Điều 50; điểm s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Điều 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lưu Hiệp H2 số tiền từ 40.000.000 (bốn mươi triệu) đến 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;
Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1 và Lưu Hiệp H2 nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 06/2/2024 đến ngày 05/5/2024 các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1 và Lưu Hiệp H2 đã 06 lần có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức chơi game bắn cá đổi điểm thành tiền cụ thể: Ngày 06/02/2024 đánh bạc số tiền 9.000.000 (chín triệu) đồng; ngày 06/3/2024 là 11.000.000 (mười một triệu) đồng; ngày 06/4/2024 đánh bạc số tiền 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng; ngày 29/4/2024 đánh bạc số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng; ngày 02/5/2024 đánh bạc số tiền 22.500.000 (hai mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng; ngày 05/5/2024 đánh bạc số tiền 37.000.000 (ba mươi bảy triệu) đồng tại địa chỉ số G B, phường S, quận T thì bị phát hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Trong vụ án này, Nguyễn Thị N là người cầm đầu, đứng ra tổ chức việc cho các người chơi bắn cá đổi điểm thành tiền với tỉ lệ 1 điểm = 20 đồng, thuê bị cáo C1 trông coi phụ cửa hàng và nạp điểm cho khách do đó hình phạt dành cho bị cáo N có phần nghiêm khắc hơn các bị cáo khác.
Đối với Lê Ngọc T3 có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi game bắn cá đổi điểm thành tiền. Tuy nhiên, số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng (dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự) nên chưa đủ cơ sở để khởi tố về tội Đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Trần Cao Đình T1, không chỉ đạo và không biết Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1 cho khách chơi game bắn cá đổi điểm thành tiền nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với Vũ Quốc H (chồng của bị cáo N) trông coi tiệm bắn cá giúp Nơi nhưng không biết việc Nơi cho khách chơi game bắn cá đổi điểm thành tiền và cũng không phụ giúp Nơi đổi điểm thành tiền cho khách chơi game bắn cá nên không có cơ sở để xử lý với vai trò đồng phạm.
Đối với Vũ Duy Q (con của bị cáo N) cho N mượn tài khoản ngân hàng nhưng không biết N sử dụng để nhận tiền của khách chơi game bắn cá nên không có cơ sở để xử lý với vai trò đồng phạm;
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng hành vi của các bị cáo mang tính tự phát, không có sự phân công rõ ràng nên không thuộc trường hợp “phạm tội có tổ chức”;
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội. Hậu quả của các hành vi nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm hại đến trật tự công cộng ở tại địa phương mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tài sản của công dân vì đánh bạc là tệ nạn xã hội, thường là nguyên nhân dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng do tham lam, hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa các tệ nạn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe của nhân dân và xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo 06 lần thực hiện hành vi đánh bạc nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bên cạnh đó, năm 2024 bị cáo H2 được Ủy ban liên hiệp thanh niên Thành phố H trao tặng Bằng khen “Là gương Thanh niên dân tộc thiểu số tiêu biểu”, ngoài ra bị cáo còn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T, Hiệu trưởng trường tiểu học P, Ban thường vụ liên đoàn lao động, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các phường của quận T trao tặng nhiều Giấy khen do có nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình hoạt động, dạy học ..., bị cáo H2 là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi mẹ và vợ bị bệnh có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo H2 có nhân thân tốt và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú ổn định, trong quá trình tại ngoại chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước, không vi phạm pháp luật, có nhiều thành tích và đóng góp ở địa phương, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài ra bị cáo hiện đang tham gia công tác giảng dạy và từng hướng dẫn học sinh tham gia và đoạt giải thủ khoa cấp Thành phố chứng tỏ bị cáo có trình độ chuyên môn tốt do đó nghĩ không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà nghĩ chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo một số tiền nhất định cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo không tiếp tục phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục tham gia công tác đào tạo các học sinh và chăm lo gia đình;
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra các bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên miễn cho các bị cáo;
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với một (01) máy trò chơi bắn cá kích thước 2m2 x 1m49 x 0,73m có vỏ bằng nhựa - kim loại, mặt bằng kính - mica, màu vàng, không có nhãn hiệu, là máy H2 sử dụng chơi bắn cá đổi điểm ăn tiền. Qua quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Trần Cao Đình T1, ông T1 không biết và liên quan đến việc bị cáo N tổ chức kinh doanh bắn cá đổi điểm thành tiền nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại tài sản trên cho ông Trần Cao Đình T1;
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Nokia có số Imeil: 352415901427439; số Imei2: 352415903427437 thu giữ của bị cáo N, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Vivo, màu đỏ, số Imei 1: 860062049457335; số Imei 2: 860062049457327 là điện thoại Hên sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo;
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 353185442331627, số Imei 2: 358325552331620 là điện thoại bị cáo H2 sử dụng để liên lạc nhờ chuyển tiền đánh bạc nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi, số Imei 1: 864894065527443, số Imei 2: 864894065527450 là điện thoại bị cáo C1 sử dụng để chuyển tiền đánh bạc nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Đối với số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng là số tiền bị cáo H2 tham gia đánh bạc nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;
Các vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 183/PNK ngày 05/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
[6] Về số tiền thu lợi bất chính:
Quá trình điều tra xác định quá trình phạm tội bị cáo N thu lợi số tiền bất chính 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, bị cáo C1 hưởng lợi từ bị cáo N số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm ngàn) đồng do đó cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền trên để sung vào Ngân sách Nhà nước;
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1 và Lưu Hiệp H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Thị N 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024; - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Văn C1 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024; - Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s, v Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo:
Lưu Hiệp H2 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.
Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho các bị cáo;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị N nộp lại số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C1 nộp lại số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm ngàn) đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước;
Kể từ ngày bị cáo H2 phải thi hành trách nhiệm dân sự như nêu trên cho đến khi thi hành xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Áp dụng điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Trả cho ông Trần Cao Đình T1 một (01) máy trò chơi bắn cá kích thước 2 m 2 x 1 m 49 x 0,73 m có vỏ bằng nhựa - kim loại, mặt bằng kính - mica, màu vàng, không có nhãn hiệu;
Trả cho bị cáo Nguyễn Thị N một (01) điện thoại di động hiệu Nokia có số Imei1: 352415901427439; số Imei2: 352415903427437;
Trả cho bị cáo Lưu Hiệp H2 một (01) điện thoại di động hiệu Vivo, màu đỏ, số Imei 1: 860062049457335; số Imei 2: 860062049457327;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: một (01) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 353185442331627, số Imei 2: 358325552331620; một (01) điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi, số Imei 1: 864894065527443, số Imei 2: 864894065527450 và số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng;
(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 183/PNK ngày 05/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh);
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo N, C1 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 237/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 237/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C1 và Lưu Hiệp H2 phạm tội “Đánh bạc”.
