Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 237/2024/DS-PT

Ngày: 31-5-2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang
Bà Phan Thị Hồng Dung

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Kim Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà HUỳnh Hồng Phil– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 170/2024/QĐPT-DS ngày 12 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ánh H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  • Người đại diện hợp pháp của bà H: Ông Huỳnh Minh Đ, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền ngày 13/11/2023). Có mặt
  • - Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1974 và bà Huỳnh Thị Tuyết H1, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đỗ Lan C– Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố C. Có mặt
  • - Người kháng cáo: Bà Võ Thị Ánh H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, đại diên nguyên đơn trình bày và yêu cầu:

Bà Tuyết H1 có tham gia chơi 04 dây hụi do bà A H1 làm chủ, bà Tuyết H1 đã hốt hụi nhưng chưa đóng đủ 04 dây hụi cho bà, cụ thể:

  • - Dây 1, hụi mùa (khui hụi theo vụ lúa, 03 vụ/năm) mở ngày 10/8/2016 (âm lịch), hụi 3.000.000đ, gồm 15 chân hụi, bà Tuyết H1 tham gia 01 chân, đến khi bỏ thăm 1.300.000đ thì bà Tuyết H1 hốt hụi, không nhớ hốt hụi được bao nhiêu, lần hốt thứ mấy, việc hốt 02 bên tự giao tiền hụi, không lập giấy tờ và không ghi vào sổ theo dõi của bà Ánh H. Kể cả lần hốt hụi, bà Tuyết H1 đóng cho bà được 09 lần, còn lại 06 lần hụi chết không đóng với số tiền là 18.000.000đ. Dây hụi này mãn hụi vào tháng 02/2022.
  • - Dây 2, cách chơi tương tự dây 1, mở hụi 10/02/2018(AL), gồm 16 chân, hụi 3.000.000đ, bà Tuyết H1 tham gia một chân, không nhớ bà Tuyết H1 hốt lần thứ mấy chỉ nhớ bỏ thăm 1.500.000đ thì hốt hụi, bà Tuyết H2 đóng được 05 lần, còn lại 11 lần hụi chết với số tiền 33.000.000đ không đóng, mãn hụi là tháng 05/2023.
  • - Tương tự, dây 3: khui hụi ngày 20/8/2018(AL), hụi mùa 3.000.000đ, gồm 16 chân, bà Tuyết H1 tham gia 01 chân, lần thứ 6 kêu 1.400.000đ thì hốt hụi, đóng được 07 lần, còn thiếu 9 lần hụi chết với số tiền 27.000.000đ không đóng, mãn hụi tháng tháng 8/2023.
  • - Dây hụi 4: hụi tháng 1.000.000đ, gồm 19 chân, khui hụi ngày 02/4/2020(AL), không nhớ lần hốt hụi, chỉ nhớ bà Tuyết H1 kêu 300.000đ thì hốt hụi, bà Tuyết H1 đóng được 08 lần, còn lại 11 lần hụi chết không đóng là 11.000.000đ, dây này mãn hụi tháng 02/2022.

Vào ngày 10/3/2021 bà Ánh H và Tuyết H1 chốt lại số tiền bà Tuyết H1 còn nợ là 34.000.000 đồng. Do tính đến ngày 10/3/2021 các dây hụi chưa mãn nên chỉ chốt số tiền nợ đến thời điểm 10/3/2021AL. Việc chốt hụi, hai bên có lập giấy vay tiền, nội dung bà Tuyết H1 có vay bà Ánh H số tiền 34.000.000đ, lãi suất 5%/tháng, thười điểm thanh toán đến ngày 10/11/2021AL.

Tiếp đến ngày 10/3/2022, hai bên thỏa thuận chốt hết số tiền nợ còn lại cho đến khi mãn hết các dây hụi và nợ lãi của số tiền 34.000.000đ là 69.800.000 đồng (gồm 55.000.000đ tiền hụi chưa đóng và 14.800.000đ tiền lãi của số tiền 34.000.000đ).

Nay bà Ánh H yêu cầu bà Tuyết H1 và ông T trả số tiền hụi chưa đóng là 89.000.000đ và tiền lãi phát sinh 16.683.000 đồng (0,83%/tháng). Trong đó, tiền lãi của 34.000.000 đồng là 30 tháng (từ 10/3/2021-10/9/2023 âm lịch) là 8.466.000 đồng, tiền lãi của 55.000.000 đồng là 18 tháng (10/3/2022 đến 10/9/2023) là 8.217.000 đồng.

Bà Huỳnh Thị Tuyết H1 trình bày: Trong năm 2016 bà có tham gia chơi hụi do bà Võ Thị Ánh H làm chủ hụi. Do bà H không giao giấy hụi nên bà không nhớ ngày chính xác. Bà thống nhất có tham gia tất cả 04 phần hụi mùa nhưng đều trong năm 2016, bà không tham gia các dây hụi mở vào năm khác. Dây hụi đầu tiên bà đóng hụi sống 1 lần, lần thứ 2 bà hốt. Bà không nhớ hốt số tiền bao nhiêu. Sau đó, bà không có tiền đóng hụi nên bà Ánh H lấy các chưng hụi sống của bà trừ qua tiền hụi chết. Sau cùng chốt lại các phần hụi thì bà còn nợ lại 34.000.000 đồng, bà Ánh H yêu cầu bà điểm chỉ (lăn tay) vào giấy (bà không rõ giấy gì). Bà có hứa sẽ thanh toán số tiền 34.000.000 đồng cho bà Ánh H (hình thức trả dần). Bà không biết chữ nên bà Ánh H buộc bà điểm chỉ vào giấy nhưng bà không biết nội dung. Sau khi chốt số tiền nợ 34.000.000 đồng thì bà có trả cho bà Á Hồng thêm 02 lần với tổng số tiền 22.000.000 đồng (17.500.000 đồng + 5.000.000 đồng). Đến nay bà chỉ còn nợ bà H 11.500.000 đồng. Việc trả nợ do con bà trực tiếp đem tiền đến trả 17.500.000 đồng và bà trực tiếp trả 5.000.000 đồng, bà Ánh H không làm biên nhận.

Ông Phạm Văn T: Ông thống nhất lời trình bày của và Tuyết H1. Ông đồng ý có trách nhiệm cùng vợ là bà Tuyết H1 trả cho bà Á Hồng số tiền 11.500.000 đồng. Phần còn lại theo đơn khởi kiện thì vợ chồng ông không đồng ý theo yêu cầu của bà Ánh H.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 40/2024/DS-ST ngày 25/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh H. Buộc ông Phạm Văn T và bà Huỳnh Thị Tuyết H1 có nghĩa vụ trả cho bà bà Võ Thị Ánh H số tiền 42.466.000 đồng (gồm tiền nợ hụi 34.000.000 đồng và lãi 8.466.000 đồng)
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh H đối với số tiền 63.217.000 (nợ hụi 55.000.000 đồng và lãi 8.217.000 đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/01/2024, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo và yêu cầu cấp phúc sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả tổng số tiền 105.683.000đ, trong đó tiền gốc 89.000.000đ, tiền lãi 16.683.000đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn nộp đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá các chứng cứ đương sự cung cấp và chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo đúng thẩm quyền. Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T, bà Tuyết H1 đã được tòa triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung kháng cáo của bà Võ Thị Ánh H thấy rằng:

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường (nay là Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 29/02/2019 ) thì chủ hụi phải lập sổ hụi có các nội dung: ghi tên, địa chỉ của chủ hụi và các thành viên, phần hụi, kỳ hụi, thể thức góp hụi và lĩnh hụi, chữ ký và điểm chỉ của các thành viên góp hụi và lĩnh hụi...

Bà Ánh H làm chủ hụi nhưng không lập sổ hụi, không có chữ ký của các thành viên khi chơi hụi, hốt hụi... Do vậy, chưa đủ cơ sở xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của từng dây hụi, có bao nhiêu hụi viên tham gia, mỗi lần khui hụi có bao nhiêu hụi viên chứng kiến, đã giao tiền bao nhiêu, đóng lại bao nhiêu và còn nợ bao nhiêu. Bà Tuyết H1 cho rằng có tham gia 04 dây hụi vào năm 2016 và chỉ hốt hụi 01 dây, còn lại 03 dây hụi chưa hốt; bà Ánh H cho rằng bà Tuyết H1 đã hốt cả 04 dây hụi nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh như bà trình bày ngoài 02 giấy vay tiền ngày 10/3/2021AL và ngày 10/3/2022AL, trong khi bà Tuyết H1 không thừa nhận.

Theo trình bày của bà Ánh H thì 02 thời điểm chốt nợ đều chưa mãn hụi, lần 1 chốt nợ đến ngày 10/3/2021AL, lần 2 chốt nợ thêm từ sau ngày 10/3/2021AL đến khi mãn toàn bộ 04 dây hụi (tháng 8/2023AL). Lời trình bày của bà Ánh H không được bà Tuyết H1 thừa nhận, bà Tuyết H1 chỉ thừa nhận chốt hết nợ ngày 10/3/2021AL còn nợ bà Ánh H tổng cộng 34.000.000đ. Việc chốt nợ không thể hiện nội dung chỉ chốt nợ đến 10/3/2021AL và còn nợ lại số hụi chết chưa đóng sau ngày 10/3/2021AL.

Xét thấy, bà Ánh H cho rằng sau ngày 10/3/2021AL, hai bên tiếp tục chốt thêm nợ, thể hiện bằng giấy vay tiền ngày 10/3/2022AL, bà Tuyết H1 có lăn tay vào giấy vay tiền, có nội dung vay 69.800.000đ (gồm 55.000.000đ nợ hụi và 14.800.000đ nợ lãi của 34.000.000đ, có giảm lãi), tuy nhiên bà Tuyết H1 không thừa nhận. Việc bà Ánh H yêu cầu bà Tuyết H1 điểm chỉ vào giấy vay tiền ngày 10/3/2022AL, không có người chứng kiến, bà Tuyết H1 không biết chữ và không thừa nhận nội dung số nợ; bà Ánh H không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh việc bà Tuyết H1 có tham gia chơi hụi và hốt hụi như bà trình bày, cấp sơ thẩm không chấp nhận phần khởi kiện này của bà Ánh H là có căn cứ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Ánh H không được chấp nhận nên bà Ánh H phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Ánh H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh H;

    Buộc ông Phạm Văn T và bà Huỳnh Thị Tuyết H1 có nghĩa vụ trả cho bà bà Võ Thị Ánh H số tiền 42.466.000 đồng (gồm tiền nợ hụi 34.000.000 đồng và lãi 8.466.000 đồng).

    Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh H đối với số tiền 63.217.000 (nợ hụi 55.000.000 đồng và lãi 8.217.000 đồng).

  2. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Huỳnh Thị Tuyết H1 và ông Phạm Văn T phải nộp số tiền án phí 2.123.300 đồng.
    • Bà Võ Thị Ánh H phải nộp số tiền án phí 3.160.865 đồng. Bà Ánh H đã nộp tạm ứng án phí 2.642.075 đồng theo biên lai thu tiền số 0007320 ngày 14/11/2023 được chuyển thu án phí. Bà Ánh H còn phải nộp tiếp 518.790 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Ánh H phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007470 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai; bà Ánh H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  3. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ và thi hành án:

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7 và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND-TPCT
  • - TAND huyện Thới Lai
  • - Các đương sự
  • - Chi Cục THADS Thới Lai
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 237/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 237/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà H, y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger