| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH AN GIANG Bản án số: 237/2021/HNGĐ-ST Ngày: 17-5-2021 V/v tranh chấp ly hôn, về nuôi con giữa chị L với anh H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Bờ.
- Bà Trương Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2021 về việc tranh chấp “Ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Kha Thị Bích L, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Tổ 01, ấp Mỹ Bình, xã TMT, huyện C, tỉnh An Giang. - - Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Tổ 01, ấp Mỹ Bình, xã TMT, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/12/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Kha Thị Bích L trình bày:
1. Về hôn nhân: Chị và anh H tổ chức đám cưới và sống chung với nhau từ năm 2002, đến năm 2005 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng dần về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã. Anh H thường xuyên kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị rất nhiều lần. Chị cố gắng nhịn nhục sống vì các con, nhưng anh H vẫn không thay đổi. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.
2. Về con chung: Có 03 con chung tên Bùi Thị Thanh Trúc, sinh năm 2003; Bùi Thị Trúc Em, sinh năm 2007 và Bùi Thanh Huy, sinh năm 2015, hiện 03 cháu đang ở nhà với anh H, nhưng chị là người nuôi, do chị không ở nhà chung nữa mà chị về nhà mẹ ruột sinh sống, nhà mẹ ruột cập vách nhà của vợ chồng chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Bùi Văn H trình bày:
1. Về hôn nhân: Thống nhất lời trình bày của chị L về quá trình tiến tới hôn nhân. Anh không đồng ý ly hôn vì anh không muốn con cái có cha thiếu mẹ, có mẹ thiếu cha. Anh muốn vợ chồng hàn gắn, cùng nuôi dưỡng con cái khôn lớn. Anh thừa nhận vào lúc 19 giờ ngày 08/10/2020 âm lịch anh có ghen, có uống rượu, có đánh vợ, hành hung vợ trong lễ cưới do vợ ca hát nhảy múa, có người câu cổ vợ. Anh đã biết sai, anh hứa sửa lỗi và không sai phạm nữa. Yêu cầu đoàn tụ vợ chồng.
2. Về con chung: Có 03 con chung tên Bùi Thị Thanh Trúc, sinh năm 2003; Bùi Thị Trúc Em, sinh năm 2007 và Bùi Thanh Huy, sinh năm 2015, hiện 03 cháu đang ở nhà với anh, nhưng vợ là người nuôi, do hai nhà liền vách nhau, các cháu qua lại 02 nhà.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, bị đơn không đồng ý ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án: Chị L và anh H kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện anh H có hành vi bạo lực gia đình, vợ chồng đã ly thân hơn 06 tháng, cho thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, về nuôi con chung, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn huyện C, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị L với anh H đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện C, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 358, ngày 24/5/2005. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh ghen tuông, hành hung chị L, vợ chồng đã sống ly thân đã lâu. Nay tình cảm không còn chị L yêu cầu ly hôn. Anh H không đồng ý vì cho rằng còn thương vợ thương con muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc nuôi dạy con. Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H là có cơ sở theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị L và anh H có 03 con chung tên Bùi Thị Thanh Trúc, sinh năm 2003; Bùi Thị Trúc Em, sinh năm 2007 và Bùi Thanh Huy, sinh năm 2015. Hội đồng xét xử chấp nhận giao các cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 9, 19, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Kha Thị Bích L đối với anh Bùi Văn H.
- Về hôn nhân: Chị Kha Thị Bích L được ly hôn với anh Bùi Văn H.
- Về con chung: Giao 03 con chung tên Bùi Thị Thanh Trúc, Bùi Thị Trúc Em và Bùi Thanh Huy cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí: Chị Kha Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008604 ngày 14/01/2021.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Các đương sự; - UBND xã Vĩnh Thạnh Trung; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 237/2021/HNGĐ-ST ngày 17/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, về nuôi con
- Số bản án: 237/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
