Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2369/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/11/2024

V/v tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1391/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 816/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/10/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu V, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: A B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Đỗ Viết H, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: 6 Đ, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn yêu cầu ly hôn ngày 25/6/2024, bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, bà Huỳnh Thị Thu V trình bày:

Năm 1989, bà Huỳnh Thị Thu V và ông Đỗ Viết H tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 039/1989, ngày 27/4/1989.

Quá trình chung sống, bà V và ông H nảy sinh nhiều mâu thuẫn đến gay gắt về kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau làm tình cảm vợ chồng dần mất đi, dù bà V đã rất nỗ lực hàn gắn nhưng mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng. Giữa năm 2013, sau trận cãi vã, ông H tát vào mặt bà V và dẫn con gái Đỗ Huỳnh Thanh T bỏ đi. Từ ngày đó, ông H và bà V, mỗi người một nơi, không liên hệ, hỗ trợ, giúp đỡ nhau và không có chung kinh tế.

Nay, bà nhận thấy không còn tình cảm với ông H, cuộc sống chung không có nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 02 con chung gồm: ông Đỗ Viết T1 sinh ngày 28/3/1990 và bà Đỗ Huỳnh Thanh T sinh ngày 21/6/1996, đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn - ông Đỗ Viết H vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt tại các phiên tòa xét xử mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Ông H không phản hồi bất kỳ ý kiến và yêu cầu gì đến Tòa án.

Tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị Thu V có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn, bà giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như trên. Ông Đỗ Viết H vắng mặt không lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ theo quy định tại các điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Thu V, tuyên bố bà V được ly hôn với ông Đỗ Viết H.

Về án phí sơ thẩm: Bà V phải nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Bị đơn là ông Đỗ Viết H cư ngụ tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn - Bà Huỳnh Thị Thu V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà V.

Bị đơn - ông Đỗ Viết H vắng mặt không lý do tại phiên tòa xét xử sơ thẩm mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ trích lục kết hôn số 317/2024/TLKH - BS ngày 05/6/2024 của Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện bà Huỳnh Thị Thu V và ông Đỗ Viết H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D ngày 27/4/1989 đã đủ cơ sở kết luận bà V và ông H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Do đó, hôn nhân giữa bà V và ông H là hôn nhân hợp pháp.

Xét về mâu thuẫn, bà V khai cuộc sống hôn nhân của đôi bên có nảy sinh nhiều mâu thuẫn gay gắt về kinh tế gia đình cũng như tình cảm vợ chồng nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, dù bà V đã rất nỗ lực nhưng mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng. Từ năm 2013, bà V và ông H đã ly thân với nhau đến nay. Lời khai của bà được hai con là Đỗ Viết T1 và Đỗ Huỳnh Thanh T xác nhận đúng. Tính đến nay, đôi bên đã không còn cuộc sống vợ chồng gần 11 năm, đây là thời gian quá dài mà cả hai không thể kết nối, hàn gắn tình cảm. Cho thấy, hôn nhân của bà V và ông H không đạt được mục đích tạo lập một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, cả hai không còn tình cảm với nhau và không mong muốn tiếp tục cuộc hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà V, thiết nghĩ cho đôi bên ly hôn nhau cũng nhằm tạo điều kiện cho cả hai ổn định về cuộc sống và tinh thần.

Về phía ông H, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông H tại địa chỉ 6 X, Phường B, quận B để tham gia các thủ tục tố tụng, trong đó có các phiên hòa giải đoàn tụ, xét xử để ông H nêu ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà V, mục đích để tìm ra nguyên nhân chính của mâu thuẫn vợ chồng nhằm tháo gỡ, định hướng cho gia đình ông đoàn tụ nhưng ông H đều không phản hồi đến Tòa và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án. Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an P quận B xác nhận ông H vẫn đang cư trú tại địa chỉ trên. Như vậy, việc ông H không tham gia phiên tòa là ý chí chủ quan của ông, biết có việc bà V yêu cầu ly hôn với ông nhưng vẫn không quan tâm, không ý kiến, không yêu cầu gì đến Tòa. Cho thấy, ông không mong muốn gìn giữ và tiếp tục cuộc hôn nhân này nên HĐXX nhận thấy yêu cầu ly hôn của bà V là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung gồm ông Đỗ Viết T1 - sinh năm 1990 và bà Đỗ Huỳnh Thanh T - sinh năm 1996, đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà V xác định bà và ông H không có tài sản chung và nợ chung nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết. Phía ông H không có bất kỳ yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng. Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016, bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số 0028669 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; bà V đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu V, bà Huỳnh Thị Thu V được ly hôn với ông Đỗ Viết H.
  2. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng: bà Huỳnh Thị Thu V phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0028669 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; bà V đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: bà Huỳnh Thị Thu V và ông Đỗ Viết H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS Q. Bình Thạnh;
  • - UBND Phường 09, Quận 4.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2369/2024/HNGĐ-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2369/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quá trình chung sống nảy sinh nhiều mâu thuẫn dẫn vợ chồng thường xuyên cãi vã làm tình cảm vợ chồng dần mất đi. Bà H nhận thấy không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu được ly hôn với ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger