Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2023/HS-ST

Ngày: 30/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư

2. Ông Đào Mạnh Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng– Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2023/QĐXXST HS ngày 27/10/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số : 44/2023/HSST - QĐ ngày 10/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bạc Cầm P, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản X, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi tạm trú: Thôn A, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Thái, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không – Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Bố: Bạc Cầm Hoáng (đã chết); Mẹ: Lò Thị L (đã chết); Gia đình có 5 anh em, bị cáo là thứ 3; Vợ: Quảng Thị C, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004; Tiền sự: Không.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 210 ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2022.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 299 ngày 12/12/2013 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đã được xóa án tích.

1

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).

2- Họ và tên: Trần Thế N, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định; Nơi tạm trú: Số nhà I, ngõ H đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang;Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thu mua phế liệu, Văn hóa: 12/12; Bố: Trần Thế C1, (đã chết); Mẹ: Đỗ Thị M, sinh năm 1950; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 10/7/2023 đến ngày 17/7/2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, (Có mặt tại phiên tòa).

3- Họ và tên: Vũ Thị H, sinh năm 1991; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nơi tạm trú: Số nhà I, ngõ H đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thu mua phế liệu, Văn hóa: 09/12; Bố: Vũ Tư D, sinh năm 1968; Mẹ: Đỗ Thị H1, sinh năm 1970; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ nhất; Chồng thứ nhất: Đỗ Văn N1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Chồng thứ hai: Trần Thế N, sinh năm 1985; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại:

  1. Phạm Thị H2, sinh năm 1985, (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Tổ dân phố Phú Mỹ, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  2. Trần Đức T, sinh năm 1985, (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Số D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  3. Đào Thị Vân A, sinh năm 1977, (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Số A, đường Q, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Quàng Thị H3, sinh năm 1988, (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Bản Cán, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
  2. Nguyễn Văn H4, sinh năm 1965, (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Đường L, tổ dân phố T, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  3. Nguyễn Thị H5, sinh năm 1961, (Vắng mặt).
    Địa chỉ: Số A, ngõ G, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Bạc Cầm P, sinh năm 1979, đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản X, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên (hiện ở trọ tại thôn A, xã T, thành phố B) để làm công nhân tại các công trình xây dựng. Từ ngày 07/7/2023 đến ngày 12/7/2023, P đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B. Cụ thể như sau:

*Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 07/7/2023, B Cầm P đem theo 01 chiếc kìm và 01 con dao (loại dao gọt hoa quả) đi bộ từ nhà trọ ở thôn A, xã T, thành phố B để trộm cắp tài sản. Khi P đi đến công trình đang xây dựng của gia đình chị Phạm Thị H2, sinh năm 1985 ở tổ dân phố P, phường D, thành phố B thì thấy cửa ra vào phía trước đang khóa. P đi ra phía sau, dùng tay bám vào tường và trèo qua ô thoáng vào bên trong. P thấy có 01 chiếc thang để ở phòng bếp tầng 1 nên vác thang sang phòng bên cạnh đặt thang dựa vào tường rồi trèo lên dùng dao rạch dây bảo ôn điều hòa đang quấn phía ngoài thì phát hiện bên trong có dây điện và 02 sợi dây ống điều hòa. P dùng kìm cắt đứt 02 sợi dây ống đồng điều hòa và dây điện đi kèm sau đó tháo các ốc vít được xoáy để cố định dây bảo ôn ở mặt trần. P tiếp tục mang thang ra gần cửa ra vào phòng phía trước ở tầng 1 tháo ốc vít, rạch ống bảo ôn và dùng kìm cắt đứt ống đồng điều hòa và dây điện làm toàn bộ dây bảo ôn chứa ống đồng và dây điện rơi xuống nền đất. P cầm thang đi theo cầu thang bộ lên tầng 2 rồi bắc thang trèo lên dùng kìm cắt toàn bộ dây bảo ôn chứa ống đồng điều hòa và dây điện bên trong ở khu vực hành lang và 02 phòng ở tầng 2 sau đó thả số dây này xuống tầng 1. P quan sát thấy tại tầng 2 có chiếc xe rùa nên bê xuống tầng 1 rồi ném chiếc xe ra ngoài qua ô thoáng phía sau. P bê toàn bộ số ống bảo ôn chứa dây ống đồng và dây điện vừa cắt được vứt ra ngoài qua ô thoáng sau đó trèo ra ngoài và mang ra bãi đất trống gần đó lấy số ống đồng gập gọn thành từng bó nhỏ cho vào bao xi măng rồi đặt lên chiếc xe rùa và bỏ lại vỏ dây bảo ôn và dây điện. P đẩy xe rùa đi đến khu vực khuôn viên phía trước UBND thành phố B để tìm người bán. Theo P khai gặp 01 người đàn ông không quen biết và nhờ người này gọi giúp người đến để mua số dây đồng vừa trộm cắp. Khoảng 30 phút sau có 01 người phụ nữ đi xe mô tô kéo theo xe lôi đến. P và người phụ nữ này thống nhất mua bán số dây ống đồng với giá 140.000 đồng/1kg. Người phụ nữ cân số đồng thấy có trọng lượng 8,4kg và trả cho P 1.176.000 đồng. P tiếp tục bán cho người phụ nữ này chiếc xe rùa với giá 70.000 đồng. P xin người phụ nữ cho số điện thoại để liên lạc và được người này ghi ra 01 tờ giấy có số điện thoại 0966.868.xxx. Sau đó, P đi về phòng trọ và chi tiêu hết số tiền trên.

Ngày 07/7/2023, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường xác định: Nhà chị H2 được xây 5 tầng, dạng nhà ống đang trong giai đoạn hoàn thiện. Tại các vị trí tầng 1 và tầng 2 nơi lắp hệ thống điều hòa nhiệt độ có nhiều vết cắt dây bảo ôn điều hòa; có nhiều dây bảo ôn rải rác dưới nền nhà nhưng không còn dây đồng bên trong (bút lục 67-70).

Theo chị Phạm Thị H2 khai bị trộm cắp 01 chiếc xe rùa, 88 m ống đồng PC 6,35x0,71x15m; 70 m ống đồng PC 9,35x0,71x15m; 18 m ống đồng PC

3

12,70x0,71x15m; 88 m dây điện 2x2,5 T; 88 m dây điện 2x1,5 T, 88m bảo ôn kép cách nhiệt, 20m băng cuốn là tài sản của gia đình chị H2.

Kết luận định giá tài sản số 164/KL-HĐ ngày 23/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận trị giá tài sản tại thời điểm ngày 7/7/2023 như sau:

  • 88 m ống đồng PC 6,35x0,71x15m trị giá 5.280.000 đồng
  • 70 m ống đồng PC 9,52x0,71x15m trị giá 5.600.000 đồng
  • 18 m ống đồng PC 12,70x0,71x15m trị giá 1.800.000 đồng
  • 88 m dây điện 2x2,5 Trần Phú trị giá 1.408.000 đồng
  • 88 m dây điện 2x1,5 Trần Phú trị giá 1.232.000 đồng
  • 20 m băng cuốn trị giá 800.000 đồng
  • 88 m bảo ôn kép cách nhiệt trị giá 1.672.000 đồng
  • 01 xe rùa là 70.000 đồng

Tổng trị giá: 17.862.000 đồng (bút lục 59-60).

* Vụ thứ hai: Khoảng hơn 01 giờ ngày 09/7/2023, B Cầm P mang theo 01 chiếc kìm, 01 con dao đi từ phòng trọ để trộm cắp tài sản. P đi đến công trình đang xây dựng của gia đình chị Đào Thị Vân A, sinh năm 1977 ở khu đô thị P, phường D, thành phố B thì thấy cửa ra vào đang khoá. P đi đến đầu hồi phía bên phải thì thấy có giàn giáo dựng sát tường. P trèo theo giàn giáo lên tầng 2 rồi đi theo cầu thang lên tầng 3 vào phòng trong cùng. P trèo lên giàn giáo sát tường, dùng hay tay đẩy dây bảo ôn điều hoà thụt về phía nhà vệ sinh. P dùng thang trèo lên, dùng dao rạch rách dây bảo ôn, cắt đứt dây ống đồng điều hoà rồi rút toàn bộ số ống đồng bên trong, gập gọn thành từng bó nhỏ cất vào bao tải dứa. P đi theo cầu thang bộ xuống tầng 2 và tầng 1 lấy toàn bộ số ống đồng, gấp thành từng bó nhỏ cho vào bao tải. P bê bao tải chứa ống dây đồng đi lên tầng 2 và vứt ra bãi đất trống phía sau nhà. P lấy chiếc xe rùa ở tầng 2 rồi vứt xuống bãi đất trống sau đó đi ra ngoài theo lối vào ban đầu. P nhặt bao đựng ống đồng để lên xe rùa rồi đẩy xe đi tìm địa điểm tiêu thụ.

Khoảng 04 giờ cùng ngày, P đi đến cửa hàng mua bán phế liệu của vợ chồng Vũ Thị H, Trần Thế N ở số nhà I, ngõ H, đường L, phường D, thành phố B. Lúc này, H và N đang ngủ ở trong nhà. Nghe thấy có tiếng người gọi cửa, Vũ Thị H tỉnh giấc và đứng ở phía trong hỏi thì P nói có dây đồng muốn bán. Huế lấy chìa khoá ra mở cửa. Trần Thế N cũng tỉnh dậy và đi cùng H ra phía ngoài cửa. N bảo P đẩy xe rùa vào trong nhà. H dùng dao rạch rách bao tải dứa để kiểm tra thì thấy bên trong có các ống đồng để lắp điều hòa. N và H thấy P mặc trang phục thợ xây dựng và bán loại dây đồng điều hòa còn mới, bán vào lúc sáng sớm nên biết là tài sản do P trộm cắp mà có. P hỏi thì H nói mua với giá 150.000 đồng/1kg. P nói: “Trước tao bán vẫn 160.000 đồng/1kg” thì N nói: “Mua với giá 155.000 đồng/1kg để bọn em có mấy nghìn lãi” nên P đồng ý bán. P bê chiếc bao đựng dây ống đồng đặt lên chiếc cân đồng hồ của gia đình H thì xác định có khối lượng 25,5kg. H cầm chiếc

4

máy tính và tính tiền thì phải trả 3.952.500 đồng. Huế lấy tiền ở trong túi đeo trên người ra và đếm tiền. P tiếp tục bán chiếc xe rùa thì H đồng ý mua với giá 70.000 đồng. Huế đưa cho P 4.010.000 đồng. P cầm tiền sau đó nhờ N chuyển giúp 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Quàng Thị H3, sinh năm 1988, trú tại bản Cản, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên (là cháu của P). N sử dụng tài khoản ngân hàng M1 chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản số 8905205202624 tại ngân hàng A1 của Quàng Thị H3. Sau khi N chuyển tiền thành công, P trả cho N 2.000.000 đồng tiền mặt rồi ra về. Trên đường về, P gọi điện thoại cho chị H3 biết đã chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của chị H3 và nhờ giữ hộ. Số tiền còn lại thì P đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với Trần Thế N, Vũ Thị H sau khi mua được số dây ống đồng và xe rùa do B Cầm P bán thì đem cất giấu tại cửa hàng.

Ngày 09/7/2023, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường xác định: Nhà chị Đào Thị Vân A xây 4 tầng đang trong giai đoạn hoàn thiện. Tại các vị trí tầng 1, tầng 2 và tầng 3 nơi lắp hệ thống điều hòa nhiệt độ có nhiều vết cắt dây bảo ôn điều hòa; có nhiều dây bảo ôn rải rác dưới nền nhà nhưng không còn dây đồng bên trong (bút lục 73-76).

Kết luận định giá tài sản số 133/KL-HĐ ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận trị giá tài sản tại thời điểm ngày 9/7/2023 như sau:

  • 01 chiếc xe rùa làm bằng kim loại, dùng để chở nguyên vật liệu, xe cũ đã qua sử dụng trị giá 70.000 đồng
  • 31,333m ống dây đồng lắp điều hòa, loại 15,88x0,71x15m trị giá 4.073.290 đồng
  • 16 m ống đồng lắp điều hòa loại 12,7x0,71x15m trị giá 1.600.000 đồng
  • 45 m ống đồng lắp điều hòa loại 9,52x0,71x15m trị giá 3.600.000 đồng
  • 40 m ống đồng lắp điều hòa loại 6,35x0,71x15m trị giá 2.340.000 đồng

Tổng trị giá: 11.683.290 đồng (bút lục 54-55).

*Vụ thứ ba: Khoảng hơn 01 giờ ngày 12/7/2023, B Cầm P mang theo 01 chiếc kìm, 01 con dao rồi đi bộ từ phòng trọ để trộm cắp tài sản. P đi đến công trình đang xây dựng của ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1965 ở đường L thuộc tổ dân phố T, phường D, thành phố B. Công trình này do anh Trần Đức T, sinh năm 1985, trú tại số nhà D đường X, phường N, thành phố B nhận hợp đồng và đang tiến hành thi công lắp đặt điều hoà cho gia đình ông H4 nhưng chưa làm xong nên chưa bàn giao. P thấy phía trước ngôi nhà có 01 chiếc thang máy vận chuyển vật liệu xây dựng. P trèo theo cột sắt của thang máy lên tầng 2. P dùng chiếc thang ở trong nhà trèo lên tiếp cận vị trí lắp dây bảo ôn điều hòa, dùng tay xoáy ốc vít cố định dây bảo ôn với mặt trần; dùng dao rạch dây bảo ôn thì phát hiện bên trong có dây điện và ống đồng điều hòa. P dùng kìm cắt dây điện và ống đồng rồi rút ống đồng ra khỏi dây bảo ôn. P cắt ống đồng thành từng đoạn và gập lại thành bó nhỏ cho vào trong bao tải và cầm theo dây bảo ôn bên trong có dây điện ném xuống

5

tầng 1. Bằng cách thức như trên, P đi lên tầng 3 cắt hết dây điện và ống đồng có trong dây bảo ôn đang gắn trên tường, lấy hết số ống đồng cho vào bao xi măng, cầm theo dây bảo ôn bên trong có dây điện đem xuống tầng 2 ném xuống tầng 1. P thấy ở tầng 2 có 1 chiếc xe rùa nên bê xe rùa ném xuống cạnh vị trí bao đựng ống đồng và dây bảo ôn. P lấy thang đưa ra cửa sổ phòng phía sau để trèo xuống. Số dây bảo ôn chứa dây điện P vứt tại khu đất trống gần đó rồi cho bao tải đựng ống đồng lên xe rùa rồi đẩy xe đi đến cửa hàng mua bán sắt vụn của vợ chồng Vũ Thị H, Trần Thế N để bán. P gọi cửa nhưng không thấy có ai trả lời nên P đẩy xe rùa chở theo bao tải dựng ống đồng đến khu vực khuôn viên phía trước UBND thành phố B rồi dùng điện thoại gọi vào số 0966.868.xxx thì thấy có 01 người phụ nữ nghe máy. P hẹn người này đi ra gặp để bán đồng. Khoảng 15 phút sau có 01 người phụ nữ đi xe mô tô chở theo xe lôi đến. P và người phụ nữ cùng cân số đồng thấy có trọng lượng 9,4kg, người phụ nữ mua với giá 140.000 đồng/1kg và trả là 1.316.000 đồng. P bán cho người phụ nữ chiếc xe rùa được 70.000 đồng rồi đi về phòng trọ và đã sử dụng chi tiêu hết.

Ngày 12/7/2023, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường xác định: Nhà ông Nguyễn Văn H4 xây 5 tầng đang trong giai đoạn hoàn thiện. Tại các vị trí tầng 2 và tầng 3 nơi lắp hệ thống điều hòa nhiệt độ có nhiều vết cắt dây bảo ôn điều hòa và dây điện; kiểm tra khu vực bãi đất trống có các đoạn dây bảo ôn nhưng không còn dây đồng bên trong (bút lục 79-80).

Theo anh Trần Đức T khai bị trộm cắp gồm 01 xe rùa, 60 m ống dây đồng lắp điều hòa, loại 15,88x0,71x15m; 60 m ống đồng lắp điều hòa loại 9,52x0,71x15m; 60 m ống dây bảo ôn, dày 19mm, loại phi 10; 60 ống dây bảo ôn, dày 19mm, loại phi 16 và 195 m dây điện nhãn hiệu Trần Phú các loại. Đây là tài sản do anh T mua để hợp đồng lắp cho gia đình ông H4.

Kết luận định giá tài sản số 164/KL-HĐ ngày 23/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận trị giá tài sản tại thời điểm ngày 12/7/2023 như sau:

  • 60 m ống dây đồng lắp điều hòa, loại 15,88x0,71x15m trị giá 7.800.000 đồng
  • 60 m ống đồng lắp điều hòa loại 9,52x0,71x15m trị giá 6.400.000 đồng
  • 60 m ống dây bảo ôn, dày 19mm, loại phi 10 trị giá 900.000 đồng
  • 60 ống dây bảo ôn, dày 19mm, loại phi 16 trị giá 900.000 đồng
  • 65 m dây điện nhãn hiệu Trần Phú, loại (2x2,5)mm trị giá 1.040.000 đồng
  • 65 m dây điện nhãn hiệu Trần Phú, loại (2x1,5)mm trị giá 910.000 đồng
  • 65 m dây điện nhãn hiệu Trần Phú, loại (2x0,7)mm trị giá 390.000 đồng.
  • 01 xe rùa trị giá 70.000 đồng

Tổng trị giá: 18.410.000 đồng (bút lục 59-60).

Ngoài hành vi tiêu thụ số 25,5 kg dây ống đồng và 01 chiếc xe rùa do B Cầm P trộm cắp đem đi bán vào ngày 9/7/2023 thì Trần Thế N, Vũ Thị H còn có

6

hành vi tiêu thụ 01 chiếc xe lôi, loại xe tự chế do hai đối tượng (chưa xác định được) trộm cắp đem đi bán ngày 10/7/2023, cụ thể như sau:

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, N và Huế đang ngủ thì nghe thấy có người gọi cửa. N và H đi ra mở cửa thì thấy có 02 người đàn ông đứng ở trước cửa hàng, bên cạnh có 01 chiếc xe mô tô và 01 chiếc xe lôi. Hai người đàn ông này kéo chiếc xe lôi lên vỉa hè và gạ bán. N và H biết 02 người này đã trộm cắp chiếc xe lôi mang đến bán. N nói mua với giá 7.500 đồng/1kg thì 02 người này đồng ý bán và đẩy chiếc xe lôi vào bên trong. N cùng 02 người đàn ông khiêng chiếc xe ra khu vực vườn phía sau rồi đặt lên cân thấy có khối lượng là 188kg. Huế sử dụng máy tính cầm tay tính tiền và trả 1.410.000 đồng. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, N sử dụng 01 chiếc khò cắt chiếc xe lôi ra thành từng đoạn rồi cất giấu ở góc vườn.

Kết quả điều tra xác định chiếc xe lôi là của bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1961, trú tại số nhà A ngõ G đường N, phường L, thành phố B để ở trước cửa nhà vào buổi tối ngày 09/7/2023 đến sáng hôm sau thì phát hiện bị kẻ gian trộm cắp. Kết luận định giá tài sản số 133/KL-HĐ ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận chiếc xe lôi trị giá 05 triệu đồng (bút lục 54).

Ngày 10/7/2023, Công an thành phố B tiến hành kiểm tra cửa hàng thu mua phế liệu của Trần Thế N, Vũ Thị H đã thu giữ toàn bộ số dây ống đồng có tổng khối lượng 25,5kg, 01 chiếc xe rùa và nhiều thanh kim loại được cắt ra từ chiếc xe lôi (bút lục 325). Tiến hành cân kiểm tra trọng lượng, tính chiều dài số vật chứng thu giữ đã xác định:

  • Ống đồng loại 15,88x0,71 có 37 đoạn được gấp lại có độ dài, ngắn khác nhau, có trọng lượng 9,4kg, tổng chiều dài là 31,333m.
  • Ống đồng loại 12,7x0,71 có 09 đoạn được gấp lại có độ dài, ngắn khác nhau, có trọng lượng 3,2kg, tổng chiều dài là 16 m.
  • Ống đồng loại 9,52x0,71 có 26 đoạn được gấp lại có độ dài, ngắn khác nhau, có trọng lượng 9kg, tổng chiều dài là 45 m.
  • Ống đồng loại 6,35x0,71 có 17 đoạn được gấp lại có độ dài, ngắn khác nhau, có trọng lượng 3,9kg, tổng chiều dài là 39 m.
  • 15 thanh, khung, tấm kim loại đã bị cắt có tổng trọng lượng 117,6 kg (bút lục 314).

Ngày 13/7/2023, Vũ Thị H giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc máy tính nhãn hiệu CASIO FX-570ES PLUS, vỏ màu xanh trắng; 01 chiếc cân đồng hồ loại 100kg nhãn hiệu NHƠN HOÀ (bút lục 447).

Ngày 6/9/2023, Quàng Thị H3 đã tự nguyên giao nộp số tiền 2.000.000 đồng do Bạc C2 P gửi nhờ giữ hộ (bút lục 396).

Ngày 10/7/2023, Cơ quan điều tra triệu tập Trần Thế N để làm việc thì N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên (bút lục 399-401).

7

Ngày 16/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B triệu tập B Cầm P đến làm việc thì P đầu thú và khai nhận đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra tạm giữ của P chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus có sim số 05632.627.957 (bút lục 326, 472-473).

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bạc Cầm P tại thôn A, xã T, thành phố B đã thu giữ 01 chiếc áo dài tay màu vàng; 01 con dao dài 15cm, bản rộng 1,5cm, chuôi dao làm bằng nhựa màu vàng; 01 chiếc kìm dài 20cm. Đây là công cụ, trang phục mà P sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (bút lục 64).

Cơ quan điều tra tiến hành cho Bạc C2 P tự xác định hiện trường các vụ trộm cắp tài sản và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, P xác định đúng các địa điểm trộm cắp tài sản của gia đình chị Phạm Thị H2, chị Đào Thị Vân A, ông Nguyễn Văn H4 ở phường D, thành phố B; thực hiện các hành vi di chuyển vào các công trình xây dựng, sử dụng dao, kìm cắt dây ống đồng điều hoà như bị can khai (bút lục 191, 252-253, 274-275).

Cơ quan điều tra đã cho Trần Thế N, Vũ Thị H thực nghiệm hành vi trao đổi, mua bán tài sản và cho N thực hiện hành vi sử dụng khò cắt chiếc xe lôi thành nhiều đoạn khác nhau. Kết quả, Huế và N thực hiện các động tác như các bị can đã khai.

Cơ quan điều tra đã cho Trần Thế N nhận dạng ảnh P và cho P nhận dạng ảnh N và Huế. Kết quả N nhận đúng ảnh và xác định P đã đem dây ống đồng và xe rùa đến bán cho vợ chồng N vào ngày 9/7/2023 (bút lục 287-288); P nhận đúng ảnh và xác định N và H đã mua dây ống đồng do P đem đến bán (bút lục 282-283).

Cơ quan điều tra đã cho chị Đào Thị Vân A và bà Nguyễn Thị H5 quan sát số vật chứng đã thu giữ tại nhà Trần Thế N. Kết quả chị Vân A xác định chiếc xe rùa và những ống dây đồng là tài sản của chị Vân A bị trộm cắp tại công trình xây dựng. Bà H5 xác định các thanh, khung, tấm kim loại được cắt ra từ chiếc xe lôi của gia đình bà H5 bị trộm cắp (bút lục 338, 373).

Cơ quan điều tra cho Bạc C2 P nhận dạng chiếc xe rùa và những ống dây đồng đã thu giữ tại nhà N. Kết quả P xác định là tài sản mà P đã trộm cắp ngày 9/7/2023 sau đó đem bán (bút lục 480).

Về người phụ nữ mà P khai mua dây ống đồng và chiếc xe rùa ngày 07/7/2023. Kiểm tra điện thoại của P xác định hồi 03 giờ 56 phút ngày 12/7/2023 có gọi đến số điện thoại 0966.868.xxx. Chủ sở hữu và sử dụng số thuê bao này là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố P, phường D, thành phố B. Nguyễn Văn Đ và vợ là Nguyễn Thị Hồng D1 khai không đến gặp P mua số dây đồng và xe rùa. Cơ quan điều tra cho P nhận dạng Nguyễn Thị Hồng D1. Kết quả P khẳng định không phải là người đến mua dây đồng và xe rùa do P bán vào các ngày 07/7/2023 và 12/7/2023 (bút lục 282-283). Kết quả điều tra không xác định

8

được người phụ nữ đã mua chiếc xe rùa và số dây ống đồng do P trộm cắp đem đi bán vào các ngày 7/7/2023 và ngày 12/7/2023.

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Cơ quan điều tra đã trả lại bà Nguyễn Thị H5 15 thanh, khung, tấm kim loại đã bị cắt có tổng trọng lượng 117,6 kg (được cắt ra từ chiếc xe lôi). Trong quá trình điều tra, Trần Thế N, Vũ Thị H đã bồi thường cho bà Hằng số tiền 3.000.000 đồng. Bà H5 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với N và Huế (bút lục 345).

Cơ quan điều tra đã trả lại chị Đào Thị Vân A 25,5kg dây ống đồng và chiếc xe rùa đã thu giữ tại nhà vợ chồng Trần Thế N. Chị Vân A yêu cầu P phải bồi thường 9.300.000 đồng (bút lục 380-381).

Chị Phạm Thị H2 và anh Trần Đức T yêu cầu B Cầm P bồi thường số tiền theo kết luận định giá tài sản (bút lục 35-356; 367-368).

Đối với 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu xanh; 01 chiếc máy tính nhãn hiệu CASIO FX-570ES PLUS; 01 chiếc cân đồng hồ, loại 100kg, nhãn hiệu NHƠN HOÀ, số tiền 2.000.000 đồng được nhập kho vật chứng theo quy định.

Đối với Quàng Thị H3 được Bạc C2 P chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng nhờ giữ hộ nhưng chị H3 không biết nguồn gốc tiền là do P trộm cắp tài sản đem đi bán mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với vụ việc bà Nguyễn Thị H5 bị trộm cắp chiếc xe lôi trị giá 5.000.000 đồng. Do chưa xác định được đối tượng trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định tách vụ án hình sự số 14 ngày 11/9/2023 để tiếp tục điều tra, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 196/CT - VKS ngày 09/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo B Cầm P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Trần Thế N, Vũ Thị H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Bạc Cầm P trình bày: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị bức cung, dùng nhục hình, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một mình. Các hành vi được mô tả trong bản Cáo trạng đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là đúng. Các tài sản mà bị cáo đã trộm cắp được như Cáo trạng nêu là đúng. Từ ngày 07/7/2023 đến ngày 12/7/2023, bị cáo thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản về thời gian cụ thể bị cáo không nhớ rõ vì thời gian đã lâu. Bị cáo không có ý kiến gì về các kết luận định giá tài sản và các tài sản bị cáo đã trộm cắp. Khi bán các tài sản trộm cắp thì bị cáo cũng không nói cho những người mua tài sản đó là tài sản do trộm cắp mà có. Bị cáo chỉ bán tài sản trộm cắp cho vợ chồng anh N, chị H có 01 lần vào ngày 09/7/2023. Bị cáo có nhờ anh N

9

chuyển khoản cho H3 số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền xong, bị cáo có điện thoại cho H3 và bảo H3 giữ hộ. Bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Đào Thị Vân A số tiền 9.300.000 đồng; bồi thường chị Phạm Thị H2 số tiền 17.862.000 đồng; bồi thường anh Trần Đức T số tiền 18.410.000 đồng. Bị cáo bị thu giữ các tài sản: 01 chiếc áo dài tay màu vàng, đã qua sử dụng; 01 con dao có thân dao làm bằng kim loại màu trắng, dài 15cm, bản rộng 1,5 cm, chuôi dao làm bằng nhựa màu vàng, dài 8cm, đã qua sử dụng; 01 chiếc kìm làm bằng kim loại, dài 20cm, có tay cầm làm bằng nhựa màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, vỏ màu vàng, Imei: 35575307502058, gắn số thuê bao 05632.627.957, đã qua sử dụng. Bị cáo có sử dụng chiếc điện thoại di động mà bị thu giữ để liên lạc bán tài sản. Bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật về vật chứng đã thu giữ của bị cáo.

- Bị cáo Trần Thế N trình bày: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị bức cung, dùng nhục hình, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi mua tài sản do phạm tội mà có. Lần 01 vào khoảng 4 giờ ngày 09/7/2023 của bị cáo cùng với H mua 1 số tài sản do bị cáo P mang đến bán. Lần 2 vào khoảng hơn 2 giờ sáng ngày 10/7/2023, bị cáo cùng H có mua của 02 người đàn ông không quen biết 01 chiếc xe lôi, khi mua bị cáo đều biết các tài sản đó là tài sản do trộm cắp mà có. Các tài sản mà bị cáo cùng với H mua vào 02 ngày 09/7/2023 và ngày 10/7/2023 như bản cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo nghĩ đó là tài sản do phạm tội mà có nhưng bị cáo cùng với H vẫn mua với mục đích để bán lại kiếm lời. Khi bị bắt thì bị cáo và Huế bị thu giữ: 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc máy tính nhãn hiệu CASIO FX-570ES PLUS, vỏ màu trắng xanh, đã qua sử dụng; 01 chiếc cân đồng hồ, loại 100kg, nhãn hiệu NHƠN HÒA bị cáo đề nghị xử lý các vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Vũ Thị H trình bày: Bị cáo đã nghe rõ lời trình bày của bị cáo N. Bị cáo N trình bày như vậy là đúng. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi mua tài sản do phạm tội mà có. Lần 01 vào khoảng 4 giờ ngày 09/7/2023 của bị cáo cùng với N mua 1 số tài sản do bị cáo P mang đến bán. Lần 2 vào khoảng hơn 2 giờ sáng ngày 10/7/2023, bị cáo cùng N có mua của 02 người đàn ông không quen biết 01 chiếc xe lôi, khi mua bị cáo đều biết các tài sản đó là tài sản do trộm cắp mà có. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị bức cung, dùng nhục hình, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng

10

nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Xử:

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bạc C2 P từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 09 (C3) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Bạc Cầm P.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thế N từ 08 (T) tháng đến 10(M) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi ngày tạm giữ từ ngày 10/7/2023 đến 17/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Thế N.

1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 17; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Thị H từ 07 (B) tháng đến 09 (C3) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (Mười bốn) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Vũ Thị H.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo B Cầm Phường phải bồi thường cho chị Đào Thị Vân A số tiền 9.300.000 đồng; bồi thường chị Phạm Thị H2 số tiền 17.862.000 đồng; bồi thường anh Trần Đức T số tiền 18.410.000 đồng

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 chiếc áo dài tay màu vàng, đã qua sử dụng.
  • 01 con dao có thân dao làm bằng kim loại màu trắng, dài 15cm, bản rộng 1,5 cm, chuôi dao làm bằng nhựa màu vàng, dài 8cm, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc kìm làm bằng kim loại, dài 20cm, có tay cầm làm bằng nhựa màu đỏ đen, đã qua sử dụng.
  • 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

  • 01 chiếc máy tính nhãn hiệu CASIO FX-570ES PLUS, vỏ màu trắng xanh, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc cân đồng hồ, loại 100kg, nhãn hiệu NHƠN HÒA.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, vỏ màu vàng, Imei: 35575307502058, gắn số thuê bao 05632.627.957, đã qua sử dụng.

11

- Trả lại cho bị cáo B Cầm P số tiền 2.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; Các bị cáo N, Huế phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

- Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định chị Nguyễn Thị H5 là bị hại. Tuy nhiên, Đối với vụ việc bà Nguyễn Thị H5 bị trộm cắp chiếc xe lôi trị giá 5.000.000 đồng. Do chưa xác định được đối tượng trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định tách vụ án hình sự số 14 ngày 11/9/2023 để tiếp tục điều tra, xử lý nên cần xác định chị Nguyễn Thị H5 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 07/7/2023 đến ngày 12/7/2023, B Cầm P đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B, cụ thể:

12

Ngày 07/7/2023, P trộm cắp tại công trình xây dựng của gia đình chị Phạm Thị H2 01 xe rùa, 176m ống đồng PC, 176m dây điện Trần P1, 88m bảo ôn kép cách nhiệt, 20m băng cuốn trị giá 17.862.000 đồng. Sau đó, P đem bán cho 1 người phụ nữ không quen biết được 1.246.000 đồng.

Ngày 09/7/2023, P trộm cắp tại công trình xây dựng của gia đình chị Đào Thị Vân A 01 xe rùa, 132.3m ống đồng (trọng lượng là 25,5kg) trị giá 11.683.290 đồng. Sau đó P đem đến bán cho Trần Thế N và Vũ Thị H được 4.010.000 đồng.

Ngày 12/7/2023, P trộm cắp tại công trình xây dựng của ông Nguyễn Văn H4 01 xe rùa, 120m ống đồng lắp điều hòa, 120m ống dây bảo ôn, 195m dây điện Trần P1 trị giá 18.410.000 đồng (tài sản của anh Trần Đức T nhận hợp đồng và thi công lắp đặt điều hoà). Sau đó P đem bán cho 1 người phụ nữ không quen biết được 1.386.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà Bạc C2 P trộm cắp là 47.955.290 đồng.

Đối với Trần Thế N và Vũ Thị H biết rõ là tài sản do B Cầm P trộm cắp đem đến bán vào ngày 9/7/2023 nhưng đã mua tổng số 25,5 kg dây ống đồng và 01 chiếc xe rùa trị giá 11.683.290. Ngày 10/7/2023, N và H tiếp tục tiêu thụ 01 chiếc xe lôi, loại xe tự chế trị giá 5.000.000 đồng do hai đối tượng (chưa xác định được) trộm cắp của gia đình và Nguyễn Thị H5 đem đến bán. Tổng giá trị tài sản phạm pháp là 16.683.290 đồng.

Bị cáo P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo P thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Tổng giá trị tài sản mà Bạc C2 P trộm cắp là 47.955.290 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo Bạc C2 P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo N và bị cáo H đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo N và bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng. Bị cáo N và bị cáo H thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Tổng giá trị tài sản phạm pháp là 16.683.290 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo N và bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo P là người có nhân thân xấu. Bị cáo N, bị cáo H là người có nhân thân tốt.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú. Bị cáo N, Huế có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi

13

thường thiệt hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo P được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo N, bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo P đã thực hiện 03 lần phạm tội vào các ngày 07/7/2023, ngày 09/7/2023, ngày 12/7/2023 giá trị tài sản của các ngày trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và theo bản án hình sự sơ thẩm số 210 ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về các tội “Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2022 nên trong lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo N, Huế đã thực hiện việc tiêu thụ tài sản vào 02 ngày 09/7/2023 và ngày 10/7/2023 nên bị cáo N, bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Trong vụ án này các bị cáo N, Huế thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo N có vai trò tích cực hơn bị cáo H trong khi thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của bị cáo Nam cao hơn so với bị cáo H.

[8] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân.

Đối với bị cáo P đã từng bị pháp luật hình sự xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục và coi thường pháp luật. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp.

Đối với bị cáo N và bị cáo H: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng các bị cáo N và bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, vai trò của bị cáo Nam cao hơn so với bị cáo H, bị cáo N và bị cáo H là vợ chồng, chị H hiện đang nuôi con nhỏ sinh năm 2014. Hội đồng xét xử thấy: Cần cách ly bị cáo N ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung còn

14

cho bị cáo H cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo P là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, bị cáo N, bị cáo H hiện nay vẫn phải đang thuê nhà nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với yêu cầu của chị Đào Thị Vân A buộc bị cáo P phải bồi thường số tiền 9.300.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Đào Thị Vân A nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị Vân A.

- Đối với yêu cầu của anh Trần Đức T buộc bị cáo P phải bồi thường số tiền 18.410.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Trần Đức T nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Trần Đức T.

- Đối với yêu cầu của chị Phạm Thị H2 buộc bị cáo P phải bồi thường số tiền 17.862.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Phạm Thị H2 nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H2.

[11] Về vật chứng:

+ 01 chiếc áo dài tay màu vàng, đã qua sử dụng.

+ 01 con dao có thân dao làm bằng kim loại màu trắng, dài 15cm, bản rộng 1,5 cm, chuôi dao làm bằng nhựa màu vàng, dài 8cm, đã qua sử dụng.

+ 01 chiếc kìm làm bằng kim loại, dài 20cm, có tay cầm làm bằng nhựa màu đỏ đen, đã qua sử dụng.

+ 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.

Là các vật không có giá trị sử dụng và là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 chiếc máy tính nhãn hiệu CASIO FX-570ES PLUS, vỏ màu trắng xanh, đã qua sử dụng.

+ 01 chiếc cân đồng hồ, loại 100kg, nhãn hiệu NHƠN HÒA.

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, vỏ màu vàng, Imei: 35575307502058, gắn số thuê bao 05632.627.957, đã qua sử dụng.

Là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước

+ Trả lại cho bị cáo B Cầm P số tiền 2.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[12] Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo N và bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo P 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

15

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo B Cầm P 02 (Hai) năm 09 (C3) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 16/7/2023.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thế N.

Xử phạt bị cáo Trần Thế N 08 (T1) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi ngày tạm giữ từ ngày 10/7/2023 đến 17/7/2023.

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị H.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 07 (B1) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Thị H cho Ủy ban nhân dân UBND Phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.4. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 chiếc áo dài tay màu vàng, đã qua sử dụng.
  • 01 con dao có thân dao làm bằng kim loại màu trắng, dài 15cm, bản rộng 1,5 cm, chuôi dao làm bằng nhựa màu vàng, dài 8cm, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc kìm làm bằng kim loại, dài 20cm, có tay cầm làm bằng nhựa màu đỏ đen, đã qua sử dụng.
  • 01 con dao dọc giấy, vỏ bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

  • 01 chiếc máy tính nhãn hiệu CASIO FX-570ES PLUS, vỏ màu trắng xanh, đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc cân đồng hồ, loại 100kg, nhãn hiệu NHƠN HÒA.
  • 01 chiếc điện thoại di độngnhãn hiệu Iphone 6s Plus, vỏ màu vàng, Imei: 35575307502058, gắn số thuê bao 05632.627.957, đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo B Cầm P số tiền 2.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

16

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo B Cầm Phường phải bồi thường cho chị Đào Thị Vân A số tiền 9.300.000 đồng; bồi thường chị Phạm Thị H2 số tiền 17.862.000 đồng; bồi thường anh Trần Đức T số tiền 18.410.000 đồng.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo Bạc C2 P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm v à 2.278.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo Trần Thế N, bị cáo Vũ Thị H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND phường Dĩnh Kế, TP Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Tiến, TP Bắc Giang;
  • - UBND xã Búng Lao, huyện Mường Ang, tỉnh Điện Biên;
  • - UBND xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Xu ân Thường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đình Hưng

17

- Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

18

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2023/HS-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 236/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bạc Cầm Ph cùng đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger