Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/DS-PT

Ngày: 28 tháng 9 năm 2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng

đất, tháo dỡ công trình kiến

trúc nhà cửa có trên đất

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:ông Lại Hiệp Phong.

Các Thẩm phán: ông Hoàng Ngọc Linh và bà Phạm Thị Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình kiến trúc nhà cửa có trên đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 191/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 128/TB-TA ngày 16 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1980; địa chỉ nơi cư trú: Tổ F, ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lôi Phương H, sinh năm: 2000; địa chỉ: tổ A, khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (theo hợp đồng uỷ quyền; đã được công chứng ngày 27/6/2024, số công chứng 2143, quyển số 04/2024/TP/CC-SCC/HĐGD) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm: 1979; địa chỉ nơi cư trú: Tổ F, ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1983; địa chỉ nơi cư trú: Tổ F, ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

2

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: Mẹ bà là cụ Lê Thị N có phần đất diện tích 375,6m² tọa lạc tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang và được Ủy ban nhân dân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 351,6m²;

Đến năm 2008, cụ N chết, các anh em đồng thống nhất để cho bà L nhận thừa kế tài sản; Năm 2015, bà L có gửi đơn tranh chấp đất đến Ủy ban nhân dân xã A, sau khi được UBND xã A mời hòa giải nhưng không thỏa thuận được. Bà Trần Thị L yêu cầu ông Lê Ngọc T tháo dỡ một phần nhà diện tích 9,2m², mái che diện tích 5,5m² trả lại phần đất diện tích đo đạc được là 34,4m² (Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/9/2023 của Công ty TNHH Đ1) nằm trong tổng diện tích đất 230,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCNQSDĐ số CH02005 do Ủy ban nhân dân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên cấp ngày 24/12/2015 cho ông Lê Ngọc T và bà Nguyễn Ngọc M đứng tên.

Bà không hỗ trợ chi phí tháo dỡ, cũng như không yêu cầu xem xét bồi thường khi Tòa án buộc tháo dỡ phần diện tích 1m² theo yêu cầu phản tố của ông Lê Ngọc T.

Theo đơn yêu cầu phản tố và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Ngọc T trình bày: Vào năm 1990, cha mẹ ông là Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 mua của ông Q (không nhớ họ tên và hiện nay đang ở đâu, đã biệt tích nhiều năm). Đến ngày 17/5/2006, ông Lê Văn Đ và bà Bùi Thị N1 kê khai cấp giấy và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 895m², (800m² đất thổ cư, 95m² đất trồng cây lâu năm khác) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0541nK. Năm 2012, cụ Đ và cụ N1 cho vợ chồng ông phần đất diện tích 184,9m² (140m² đất ở, 44,9m² đất trồng cây lâu năm) theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 03/8/2012 được Ủy ban nhân dân xã A chứng thực, vợ chồng ông được Ủy ban nhân dân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01541;

Ngày 07/10/2015, cụ Lê Văn Đ và cụ Bùi Thị N1 tiếp tục cho vợ chồng ông diện tích 45,7m², được Văn phòng C chứng thực và được Ủy ban nhân dân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 16/10/2015 (đất ở tại nông thôn 30m², đất trồng cây lâu năm 15,7m²); Tổng diện tích hai lần được cho là 230,6m².

Vợ chồng ông trước đây ở nhà cũ của ông Q đã bán lại cho cụ Đ, N1. Năm 2015, ông T, bà M cất nhà lại theo hiện trạng diện tích trên nền nhà cũ giáp ranh với bà Trần Thị L và có nối dài ra phía sau 01m trong phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tháo dỡ một phần nhà diện tích 9,2m², mái che diện tích 5,5m² để trả lại phần đất diện tích 34,4m² (Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/9/2023 của Công ty TNHH Đ1). Ông Lê Ngọc T yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị L tháo dỡ 01

3

phần căn nhà gỗ có diện tích 1m² (hiện nay là vách Tole) trả lại cho ông phần đất diện tích 1m² do bà L đã cất lấn chiếm qua phần đất ông và vợ ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông không hỗ trợ chi phí tháo dỡ cũng như không yêu cầu xem xét bồi thường hỗ trợ tháo dỡ nếu như Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Ngọc M trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của ông Lê Ngọc T, không có ý kiến gì khác.

Tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Lê Ngọc T, buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm tháo dỡ công trình kiến trúc trả phần đất diện tích 1m² cho ông Lê Ngọc T tại các điểm 38, 57, 53, 56 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất của Công ty TNHH Đ1 lập ngày 14/9/2023.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 06/5/2024, bà Trần Thị L có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26/4/2024, buộc ông Lê Ngọc T tháo dỡ công trình kiến trúc để trả lại cho bà 34.4m².

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất ý kiến của bà L trình bày, không có ý kiến đối với Bản vẽ đo đạc lại nhưng đề nghị Hội đồng xét xử thu thập thêm chứng cứ về quá trình sử dụng đất và sơ đồ 02 vị trí đất của bà L và ông T tại Ủy ban nhân dân xã A để có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn trình bày: ông vẫn giữ nguyên trình bày ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L. Tuy nhiên, sau khi nghe công bố kết quả đo đạc lại thì thấy diện tích đất phần mái che của bà L nằm trong quyền sử dụng đất của ông không đáng kể nên ông tự nguyện rút lại yêu cầu phản tố.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa người kháng cáo không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của

4

mình nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên; hủy và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của ông Lê Ngọc T về việc yêu cầu bà Trần Thị L tháo dỡ công trình kiến trúc (nhà kho) trả phần đất diện tích 1,0m².

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị L kháng cáo trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bà L:

Bà L khởi kiện yêu cầu ông T tháo dỡ một phần căn nhà diện tích 9,2m², mái che diện tích 5,5m² trả lại diện tích 34,4m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/9/2023 của Công ty TNHH Đ1.

Thấy rằng, nguồn gốc đất diện tích 230,6m² của ông T, bà M đang sử dụng là do cụ Lê Văn Đ và cụ Bùi Thị N1 tặng cho ông T, bà M vào năm 2012 diện tích 184,9m², theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 03/8/2012 được UBND huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01541, ngày 10/9/2012.

Đến ngày 07/10/2015, cụ Đ, cụ N1 tiếp tục tặng cho vợ chồng ông T, bà M diện tích 45,7m² và được UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/10/2015.

Đối với diện tích 351,6m² của bà Trần Thị L đang sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06690, thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21, loại đất ONT do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh A cấp ngày 22/8/2022 có nguồn gốc nhận thừa kế di sản của cụ Lê Thị N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H0592nK diện tích 351,6m² do UBND Tịnh Biên cấp ngày 29/9/2005 cho cụ Lê Thị N. Như vậy, diện tích bà L được thừa kế là đúng với diện tích đất cụ N được cấp, không có sự chênh lệch về diện tích. Quá trình sử dụng đất, cụ N không có tranh chấp đối với các hộ dân giáp ranh và cũng không có khiếu nại về trình tự cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan có thẩm quyền.

Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, xác định các điểm 54, 43, 44, 61, 62, 39, 53, 52 có diện tích 34,4m². Trong đó:

+ Các điểm 54, 43, 42, 41, 40, 63, 62, 39, 57, 38, 56, 52 là phần đất có diện tích 18,7m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005 do ông T, bà M đứng tên.

5

+ Các điểm 43, 44, 41, 42 là mái che do ông T đang sử dụng có diện tích 5,5m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005 do ông T, bà M đứng tên.

+ Các điểm 44, 61, 63, 40, 41 là một phần căn nhà bê tông do ông T đang sử dụng có diện tích 9,2m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005 do ông T, bà M đứng tên.

Như vậy, diện tích 34,4m² được xác định nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005, ngày 24/12/2015 do UBND thị xã T cấp cho ông T, bà M đứng tên chủ sử dụng. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ.

Xem xét yêu cầu phản tố của ông T về việc yêu cầu bà L trả lại diện tích 1,0m², nhận thấy: Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 14/9/2023 của Công ty TNHH Đ1, xác định các điểm 38, 57, 53, 56 là một phần căn nhà gỗ do bà Trần Thị L đang sử dụng có diện tích 1,0m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005, ngày 24/12/2015 do UBND huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên cấp cho ông T, bà M đứng tên nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T buộc bà L tháo dỡ công trình kiến trúc trả lại cho ông T diện tích 1,0m² là phù hợp quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà L yêu cầu đo đạc lại phần đất tranh chấp và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/9/2024 của Trung tâm Q1, xác định:

- Các mốc M1, M10, M9, M7, M8 là các mốc ranh thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005, ngày 24/12/2015 do UBND huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên cấp cho ông T, bà M đứng tên.

- Các điểm 15, 75, 76 có diện tích 0,2m² là góc nhà kho của bà L đang sử dụng thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02005, ngày 24/12/2015 do UBND huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên cấp cho ông T, bà M đứng tên.

Như vậy, diện tích 34,4m² đất bà L khởi kiện yêu cầu ông T tháo dỡ một phần căn nhà để trả lại đất cho bà sử dụng theo bản vẽ đo đạc lại của Trung tâm Q1 vẫn nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà M.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các bên và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là của đương sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc thu thập thêm sơ đồ vị trí đất của các bên tại Ủy ban nhân dân xã A.

Bà Trần Thị L kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T rút yêu cầu bà L phải tháo dỡ công trình kiến trúc trả lại 1,0m² đất cho ông sử dụng. Xét, việc rút yêu cầu phản tố của

6

ông T là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông T có quyền khởi kiện lại theo quy định tại khoản 2 Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu không được chấp nhận nên bà L phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, đo đạc và đo đạc lại là 15.040.000 đồng. Bà L đã nộp đủ.

[4] Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định; ông T được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản Điều 308, Điều 217, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166 và Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 166 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị L.

- Huỷ một phần bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.
  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của ông Lê Ngọc T về việc yêu cầu bà Trần Thị L có trách nhiệm tháo dỡ công trình kiến trúc trả phần đất diện tích 01m² cho ông Lê Ngọc T tại các điểm 38, 57, 53, 56 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất của Công ty TNHH Đ1 lập ngày 14/9/2023.

Ông Lê Ngọc T có quyền khởi kiện lại vụ án này theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị L phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, đo đạc và đo đạc lại là 15.040.000 đồng. Bà L đã nộp đủ.

Về án phí:

- Bà Trần Thị L phải chịu 600.000 (sáu trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008781 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện (nay thị xã) Tịnh Biên; Bà Trần Thị L còn phải nộp thêm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

- Bà Trần Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

7

- Hoàn trả cho ông Lê Ngọc T tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn ngàn) đồng theo biên lai thu số 0009361 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp - HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND Tx. Tịnh Biên;
  • - VKSND TX. Tịnh Biên;
  • - CCTHADS Tx. Tịnh Biên;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/DS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình kiến trúc nhà cửa có trên đất

  • Số bản án: 236/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình kiến trúc nhà cửa có trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Thị L BĐ: Lê Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger