Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 236/2023/HS-ST

Ngày: 26-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim

Ông Thân Văn Nhàn

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Đại diện VKSND huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu C – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 227/2023/TLST-HS ngày 01/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2023/QĐXXST–HS ngày 11/12/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Hữu N, sinh năm 1992; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Thế S và bà Đinh Thị S1; vợ, con: chưa có. Tiền sự: Không.

- Tiền án:

  • + Tại bản án số 01/2016/HSST ngày 14/3/2016 của Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 28/11/2015; chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018.
  • + Tại bản án số 46/2019/HSST ngày 12/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Phục Hòa (nay là huyện Q), tỉnh Cao Bằng xử phạt 03 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2019, tổng tài sản trộm cắp có giá trị 53.120.000 đồng; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/10/2022.

- Nhân thân:

  • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 133/QĐ-XPHC ngày 12/10/2018 của Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60/CSĐT ngày 13/02/2019 của Công an huyện P, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76/QĐ-XPHC ngày 05/3/2019 của Công an huyện P, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 84/QĐ-XPHC ngày 02/4/2019 của Công an huyện P, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B – có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nông Hoàng D, sinh năm 1992; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Dương H và bà Hoàng Thị N1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 06/10/2023 đến ngày 14/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt tại phiên tòa

- Bị hại

  1. Chị Lường Thị V – sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Chu Bá T – sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đông Long, xã Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

  1. Chị Thân Thị Y – sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Hữu N- sinh năm 1992, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng và Nông Hoàng D- sinh năm 1992, trú tại xóm N, xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng là bạn quen biết với nhau từ trước, đều không có nghề nghiệp ổn định. N và D cùng nhau thuê ở trọ tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên N nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 04 giờ ngày 27/9/2023, N đi bộ từ phòng trọ đến khu nhà trọ mà trước đây N đã từng thuê tại tổ dân phố M, thị trấn N của chị Thân Thị Y- sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang với mục đích trộm cắp xe mô tô. Trước khi đi trộm cắp, N cầm theo 01 chiếc kéo, dài 18cm, phần lưỡi bằng kim loại, phần tay cầm bọc nhựa màu đỏ để làm công cụ mở khóa xe mô tô. Khi N đi đến khu nhà trọ của chị Y, N sử dụng dấu vân tay của mình đã được lưu trước đó để mở cổng và đi vào khu vực để xe ở tầng 1 của nhà trọ thấy có nhiều xe mô tô các loại khác nhau; N thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh- đen- bạc, biển kiểm soát 98E1- 589.83 của chị Lường Thị V- sinh năm 1996, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đang thuê trọ tại đây, N đi đến dùng tay phải đưa đầu mũi kéo đã chuẩn bị từ trước vào trong ổ khóa điện xe rồi vặn mạnh thì mở được khóa điện xe. Nguyên dắt chiếc xe mô tô ra ngoài cổng rồi nổ máy điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được đi về phòng trọ của mình. Lúc này, D thấy N đi chiếc xe mô tô về nhà trọ nên D hỏi về nguồn gốc chiếc xe thì N nói là xe vừa trộm được và sẽ mang xe đi bán. Tại đây, D biết chiếc xe trên là do N trộm cắp được nên D bảo N bán chiếc xe này cho D với giá 2.000.000 đồng và được N đồng ý bán. Tuy nhiên, số tiền mua bán xe được trừ dần vào tiền ăn uống, tiền thuê phòng trọ và D sẽ trả số tiền này. Sau đó, N sử dụng chiếc cờ lê ở túi dụng cụ đựng đồ trong cốp chiếc xe này để tháo biển kiểm soát chiếc xe và để ở trong phòng trọ. Khoảng 2 ngày sau, N và D đi chơi thì N cầm theo biển kiểm soát 98E1- 589.83 của chiếc xe nêu trên vứt bỏ. Ngày hôm sau, D dùng chiếc tua vít trong túi dụng cụ của chiếc xe tháo 2 cánh yếm của chiếc xe và để tại phòng trọ. Ngày 04/10/2023, D và N đi xe mô tô 98E1- 589.83 đi đến gặp anh Chu Bá T- sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang, D hỏi vay anh T số tiền 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô trên làm tin cùng với căn cước công dân của D và được anh T đồng ý. Toàn bộ số tiền này D đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 05/10/2023, chị Lường Thị V có đơn trình báo gửi Công an huyện V. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án, thu giữ hình ảnh camera giám sát tại hiện trường, trong đó có hình ảnh Hà Hữu N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. (

Ngày 06/10/2023, Hà Hữu NNông Hoàng D đã đến Công an huyện V đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội; quá trình đầu thú, N giao nộp 01 chiếc kéo, dài 18cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, tay cầm bằng nhựa màu đỏ. Cơ quan điều tra tiến hành cho N xem lại đoạn vi deo clip thu giữ khi khám nghiệm hiện trường, N xác định người trong video clip chính là N đang trộm cắp chiếc xe mô tô 98E1- 589.83.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nông Hoàng D thu giữ tại nóc nhà vệ sinh 02 chiếc yếm xe mô tô, màu xanh mà D đã tháo rời từ chiếc xe nêu trên.

Ngày 06/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Chu Bá T nhận dạng nam thanh niên đã vay anh T số tiền 1.000.000 đồng và để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh- đen- bạc, xe không có biển kiểm soát cùng 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nông Hoàng D và nam thanh niên đi cùng. Kết quả anh T nhận ra D là người trực tiếp để lại chiếc xe mô tô và căn cước công dân nêu trên để vay tiền và N là người đi cùng với D đến vay anh tiền, để lại xe, căn cước để làm tin vào ngày 04/10/2023.

Cùng ngày 06/10/2023, anh Chu Bá T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V 01 chiếc xe mô tô và chiếc thẻ căn cước công dân nêu trên để phục vụ công tác điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 183/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh- đen- bạc, biển kiểm soát 98E1- 589.83 có giá trị là 11.000.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số 226/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Hà Hữu Nguyên ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nông Hoàng D ra trước Tòa án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là không oan, các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, các bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Hữu N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 06/10/2023.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Nông Hoàng D từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nông Hoàng D cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo N theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS; bị cáo D theo quy định tại khoản 3 Điều 323 BLHS

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận

Lời nói sau cùng: các bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
  2. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
  3. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 27/9/2023, tại khu vực sân Nhà trọ của chị Thân Thị Y- sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Hà Hữu N đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh- đen- bạc, biển kiểm soát 98E1- 589.83 có giá trị là 11.000.000 đồng của chị Lường Thị V- sinh năm 1996, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; bị can Nông Hoàng D biết rõ chiếc xe mô tô 98E1- 589.83 do bị can Nguyên trộm cắp có được nhưng D vẫn mua với giá 2.000.000 đồng, để sử dụng làm phương tiện đi lại.
  4. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo Hà Hữu N có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội, do vậy hành vi của bị cáo Hà Hữu N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ngôn Hoàng D1 biết rõ chiếc xe là tài sản do Hà Hữu N trộm cắp có được nhưng vẫn mua để sử dụng, do vậy hành vi của bị cáo Nông Hà D2 đã phạm vào tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  5. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  6. Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
    • Về nhân thân: Bị cáo Hà Hữu N đã nhiều lần bị cáo Tòa án đưa ra xét xử, có 02 tiền án chưa được xóa án tích, bị cáo Nông Hà D2 có nhân thân tốt, chưa bị xử lý hành chính và hình sự lần nào.
    • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội các bị cáo đầu thú và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; ngoài ra bị cáo Nông Hoàng D phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ là Nông Dương H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huân chương chiến công giải phóng. Do vậy bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo N có 02 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội, do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Nông Hoàng D có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, do vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
  8. Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
  9. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  10. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen bạc, không có biển kiểm soát và 02 chiếc yếm xe mô tô màu xanh thu giữ được là tài sản hợp pháp của của chị V. Ngày 18/10/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị V. Đối với chiếc biển kiểm soát xe mô tô số 98E1-589.83 do N đã tháo rời và vứt bỏ, cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được. Đến nay chị V không yêu cầu gì về chiếc biển kiểm soát trên, không đề nghị bồi thường dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đối với 01 căn cước công dân số [...] của bị cáo Nông Hoàng D. Ngày 18/10/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo D. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc kéo, dài 18cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, tay cầm bằng nhựa màu đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội có giá trị thấp cần tịch thu tiêu hủy.

  1. Đối với anh Chu Bá T là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô nêu trên; quá trình điều tra xác định anh T không biết tài sản là do phạm tội mà có nên anh T không vi phạm pháp luật. Anh Chu Bá T không yêu cầu bị cáo Nông Hoàng D phải hoàn trả lại số tiền 1.000.000 đồng anh đã cho bị cáo D vay, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Bị cáo Hà Hữu N hiện đang tạm giam, căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là có căn cứ.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Hữu N 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06/10/2023.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nông Hoàng D 10 (mười) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo, dài 18cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, tay cầm bằng nhựa màu đỏ.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015

Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Việt Yên;
  • - THAHS; THADS;
  • - Công an huyện Việt Yên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 236/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Hữu N phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger