Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 263/2024/HSST

Ngày 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Hồ Sĩ Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 257/2024/HSST ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2024/QĐXX-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu N, sinh năm 1989 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: 7 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở trước khi bị bắt: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1962; Mẹ: Ngô Thị M, sinh năm 1964; Vợ: Dương Phạm Phương T1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Có 01 người con, sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 02/7/2008 bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 15 tháng 14 ngày về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, theo Bản án số 201/HSST ngày 02/07/2008.

- Ngày 31/03/2009 bị Phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC02) Công an tỉnh B xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng theo Quyết định số 18/XPHC, hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng.

Bị bắt ngày 17 tháng 5 năm 2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T (Có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Nhật T2, sinh năm 2000; Địa chỉ: H Đ, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 14/04/2024, anh Nguyễn Nhật T2 (sinh năm: 2000; chỗ ở: phòng trọ số A, địa chỉ: H Đ, phường H, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để xe mô tô hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 72E1-598.94 bên ngoài phòng trọ rồi đóng cửa ở trong phòng nhưng quên không lấy chìa khoá xe ra. Nguyễn Hữu N đang ở phòng trọ số 5 cùng dãy nhà trọ với anh T2, thấy xe mô tô biển kiểm soát 72E1-598.94 đang để trên hành lang dãy phòng trọ, chìa khóa đang cắm trên xe, đồng thời quan sát thấy không có người trông coi nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt. N đi lại chỗ để xe mô tô biển kiểm soát 72E1-598.94 và dắt xe ra ngoài hẻm rồi điều khiển xe về đầu hẻm S Đ. Đến tối cùng ngày, N điều khiển xe mô tô trên đến khu vực hẻm D B, phường N, thành phố V, cầm cố cho một người phụ nữ tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch, số điện thoại) với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, N đã tiêu xài cá nhân toàn bộ số tiền này.

Qua rà soát camera an ninh tại khu vực xảy ra vụ việc, cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã phát hiện Nguyễn Hữu N là người đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô 72E1-598.94 của anh Nguyễn Nhật T2 nên đã tiến hành làm việc với N. Tại cơ quan CSĐT, Nguyễn Hữu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên (Bút lục điều tra từ số 76 đến số H).

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐG-TTHS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda (số loại: Winner) màu sơn đen mang biển kiểm soát: 72E1-598.94 có giá trị còn lại là: 10.500.000 đồng.

+ Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

+Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án: không.

+ Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại là anh Nguyễn Nhật T2 yêu cầu Nguyễn Hữu N bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản đã bị chiếm đoạt.

Bản cáo trạng số 250/CT-VKS ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Hữu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại giá trị tài sản đã bị chiếm đoạt.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh;bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/4/2024, tại dãy phòng trọ địa chỉ H Đ, phường H, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Hữu N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 72E1-598.94 có giá trị 10.500.000 đồng của anh Nguyễn Nhật T2.

Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý bức xúc cho nhân dân trong cộng đồng dân cư. Bị cáo là người có nhân thân xấu, vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị báo bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản đã bị chiếm đoạt.

Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 10.500.000 đồng, là trị giá của chiếc xe máy bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại theo kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐG-TTHS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

Xét thấy, sự tự nguyện bồi thường số tiền 10.500.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 10.500.000 đồng nêu trên.

[7] Đối với người phụ nữ tên Q (không rõ nhân thân lai lịch) là người nhận cầm cố xe cho Nguyễn Hữu N, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu N: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024.

3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu N phải bồi thường cho anh Nguyễn Nhật T2 số tiền 10.500.000 đ (Mười triệu năm trăm ngàn đồng).

4. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 525.000đ (năm trăm hai mươi lăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06, PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 263/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 263/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Ngọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger