Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 236/2024/DS-ST

Ngày: 22-7-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng góp hụi”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và ông Phạm Ngọc Nguyên
  • Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều D - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 390/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 388/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1977, Có mặt
  2. Cư trú: Số A, tổ D, ấp T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Đặng Xuân Á, sinh năm 1970, Vắng mặt
    2. Bà Vũ Thị P, sinh năm 1968, Vắng mặt

    Cùng cư trú: Số H, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Địa chỉ liên hệ: Số C T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Kim H trình bày:

Bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á có tham gia chơi các dây hụi do bà Nguyễn Kim H làm chủ hụi. Bà P và ông Á đã hốt tất các các dây hụi và không đóng đầy đủ hụi chết của các dây hụi cho bà H.

Để tạo điều kiện cho vợ chồng bà P, ông Á trả nợ hụi, bà H đồng ý cho vợ chồng bà P, ông Á tham gia chơi ½ dây hụi 5.000.000đ/15 ngày, gồm 21 phần, áp ngày 01/01/2024, mãn ngày 01/11/2024. Vợ chồng bà P, ông Á đã hốt dây hụi này được số tiền 41.150.000đ và trả lại cho bà H số tiền 40.000.000đ, nhận số tiền 1.150.000đ. Việc giao nhận tiền giữa hai bên có làm biên nhận ngày 02/01/2024 do bà P ký tên. Như vậy, dây hụi này vợ chồng bà P, ông Á không đóng hụi chết cho bà H với số tiền 45.000.000₫.

Ngày 03/02/2024, giữa bà H và vợ chồng bà P, ông Á thoả thuận số tiền hụi còn thiếu 441.600.000đ sẽ chuyển hoá thành số tiền vay với lãi suất 02%/tháng. Hai bên có làm biên nhận ngày 03/02/2024 do bà P ký tên. Bà P đã trả lãi cho bà H đến ngày 08/3/2024 thì ngưng được số tiền 1.100.000đ. Do bà P không trả lãi nên bà H đã nhiều lần tìm gặp mặt bà P, ông Á để yêu cầu trả nợ nhưng không gặp được, bà H điện thoại thì bà P không bắt máy.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P có trách nhiệm thanh toán cho bà H số tiền cụ thể như sau:

  • + Số tiền hụi là 45.000.000đ.
  • + Số tiền vay 441.600.000đ và lãi suất 20%/năm kể từ ngày 03/02/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm. Bà H đồng ý khấu trừ đi số tiền lãi đã nhận từ bà P 1.100.000đ. Tiền lãi tạm tính (từ ngày 03/02/2024 đến ngày khởi kiện 26/3/2024) là 12.800.000đ trừ đi số tiền bà P đóng lãi 1.100.000đ, còn lại 11.700.000đ. Bà H yêu cầu ông Á và bà P trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 26/3/2024 là 11.700.000₫ cho bà H.

Tổng cộng bà H yêu cầu bà P và ông Á trả tổng số tiền 498.300.000đ, trong đó: tiền hụi là 45.000.000đ, tiền vay 441.600.000đ và lãi suất tạm tính đến ngày khởi kiện 26/3/2024 là 11.700.000đ. Ngoài ra ông Á và bà P còn phải tiếp tục chịu lãi suất 20%/năm đối với số tiền vay 441.600.000đ kể từ ngày 27/3/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P, trình bày:

Vợ chồng ông Á, bà P có tham gia chơi ½ dây hụi 5.000.000đ/15 ngày gồm 21 phần, áp ngày 01/01/2024, mãn ngày 01/11/2024. Vợ chồng ông Á, bà P đã hốt dây hụi này được số tiền 41.150.000đ và trả lại cho bà H số tiền 40.000.000đ, nhận số tiền 1.150.000đ. Việc giao nhận tiền giữa hai bên có làm biên nhận ngày 02/01/2024 do bà P ký tên. Như vậy, dây hụi này vợ chồng ông Á, bà P không đóng hụi chết cho bà H với số tiền 45.000.000đ.

Vào ngày 03/02/2024, giữa bà H và vợ chồng ông Á, bà P có thoả thuận số tiền hụi còn thiếu 441.600.000đ sẽ chuyển hoá thành số tiền vay với lãi suất 02%/tháng. Hai bên có làm biên nhận ngày 03/02/2024 do bà P ký tên. Vợ chồng ông Á, bà P đã trả lãi cho bà H được số tiền 1.100.000₫.

Ông Á và bà P thừa nhận còn nợ bà H tiền hụi là 45.000.000đ và tiền vay 441.600.000đ. Ông Á và bà P xin bà H không tính tiền lãi.

2

Tại phiên tòa:

Bà Nguyễn Kim H đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P trả cho bà H tiền hụi 45.000.000đ, tiền vay 441.600.000đ và lãi suất 20%/năm đối với số tiền vay 441.600.000đ từ ngày 08/4/2024 (ngày thụ lý vụ án) đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/7/2024), đồng ý khấu trừ số tiền lãi 1.100.000₫ ông Á và bà P đã đóng. Bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi suất 20%/năm đối với số tiền 441.600.000đ từ ngày 03/02/2024 đến ngày 07/4/2024 với số tiền là 15.486.247₫.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463, 465, 466, 468, 469, 471 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, Điều 6 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 97, 147, 171, 173, 175, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm tính từ ngày 03/02/2024 đến ngày 07/4/2024 là 15.486.247 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Đặng Xuân Á, bà Vũ Thị P có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Kim H số tiền hụi còn thiếu là 45.000.000 đồng, số tiền vay còn thiếu là 441.600.000 đồng theo biên nhận ngày 03/02/2024 và tiền lãi của số tiền vay 441.600.000 đồng với lãi suất 20%/năm tính từ ngày 08/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 25.407.123 đồng. Ông Á bà P được khấu trừ tiền lãi 1.100.000 đồng đã trả cho bà H. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Á bà P còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp phát sinh giữa bà Nguyễn Kim H và ông Đặng Xuân Á, bà Vũ Thị P là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay tài sản, hợp đồng góp hụi nên Toà án xác định quan hệ tranh chấp là : “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
  2. Về thủ tục tố tụng:
    1. Ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P.
    2. Tại phiên toà, bà Nguyễn Kim H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P trả lãi suất 20%/năm đối với số tiền 441.600.000đ từ ngày 03/02/2024 đến ngày 07/4/2024 với số tiền là 15.486.247đ. Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của bà H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà H đối với số tiền 15.486.247₫.
  3. Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Kim H căn cứ vào Biên nhận ngày 02/01/2024 và Biên nhận ngày 03/02/2024 do bà Vũ Thị P ký tên để khởi kiện yêu cầu ông Đặng Xuân Á và bà Vũ Thị P trả số tiền hụi là 45.000.000đ, tiền vay 441.600.000đ và lãi suất 20%/năm đối với số tiền vay 441.600.000đ từ ngày 08/4/2024 đến ngày xét xử, đồng ý khấu trừ số tiền lãi 1.100.000₫ ông Á và bà P đã đóng. Ông Á và bà P thừa nhận việc bà P có ký tên vào hai biên nhận trên và thừa nhận còn nợ bà H tiền hụi 45.000.000đ, tiền vay 441.600.000đ, đã trả lãi cho bà H được số tiền 1.100.000đ, xin bà H không tính tiền lãi cho ông, bà. Hội đồng xét xử xét:
    1. Đối với hợp đồng góp hụi: Giữa bà H và bà P, ông Á cùng có lời khai thống nhất việc bà P, ông Á có tham gia chơi ½ dây hụi 5.000.000đ/15 ngày, gồm 21 phần, áp ngày 01/01/2024, mãn ngày 01/11/2024, bà P và ông Á đã hốt hụi vào ngày 01/01/2024 nhưng từ đó đến nay không đóng hụi chết cho bà H, tính đến ngày mãn hụi (ngày 01/11/2024) bà P và ông Á còn phải đóng cho bà H tổng số tiền 45.000.000đ. Bà P và ông Á thừa nhận còn nợ số tiền này và đồng ý trả cho bà H. Xét thấy, bà P và ông Á là hụi viên đã hốt hụi nhưng không thực hiện đóng hụi là vi phạm nghĩa vụ của hụi viên quy định tại Điều 16 Nghị định 19/2021/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Do đó, cần buộc bà P, ông Á có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền nợ hụi 45.000.000đ.
    2. Đối với hợp đồng vay tài sản: Giữa bà H và bà P, ông Á cùng có lời khai thống nhất việc bà P, ông Á có vay của bà H số tiền 441.600.000đ vào ngày 03/02/2024 với lãi suất 2%/tháng, bà P và ông Á đã trả lãi cho bà H được số tiền 1.100.000đ. Bà P và ông Á đồng ý trả số tiền 441.600.000đ cho bà H. Hội đồng xét

4

xử xét, hợp đồng vay do hai bên xác lập là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình vay, bà P và ông Á đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, cần buộc bà P và ông Á có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 441.600.000đ.

  1. Về lãi suất: Lãi suất hai bên thoả thuận 2%/tháng, tương đương 24%/năm, là vượt quá lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, bà H chỉ yêu cầu được tính lãi suất 20%/năm đối với số tiền 441.600.000₫ là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
  2. Tiền lãi từ ngày 08/4/2024 đến ngày 22/7/2024 là 105 ngày : 441.600.000₫ x 20%/năm x 105 ngày/365 = 25.407.123đ.
  3. Số tiền lãi còn phải trả: 25.407.123₫ – 1.100.000đ = 24.307.123đ.
  1. Như vậy bà P và ông Á có trách nhiệm trả cho bà H số tiền hụi là 45.000.000đ, số tiền nợ vay là 441.600.000đ và tiền lãi là 24.307.123đ.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á phải nộp 24.436.285đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Bà Nguyễn Kim H được nhận lại 11.732.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001844 ngày 04/4/2024 và 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002033 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 468; khoản 2 Điều 469, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 16 Nghị định số 19/2021/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
  • - Điểm a khoản 2 Điều 5; Điều 6 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

5

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H đối với bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á.
    • - Buộc bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim H số tiền 465.907.123đ. Trong đó: vốn vay 441.600.000đ và lãi 24.307.123đ.
    • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/7/2024) cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • - Buộc bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Kim H số tiền hụi 45.000.000đ.
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện đã rút của bà Nguyễn Kim H đối với số tiền 15.486.247₫.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á phải nộp 24.436.285đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Kim H được nhận lại 11.732.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001844 ngày 04/4/2024 và 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002033 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bà Nguyễn Kim H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Bà Vũ Thị P và ông Đặng Xuân Á được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Lan

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 236/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kim H kiện Đặng Xuân Á, Vũ Thị P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger