|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M TỈNH AN G |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 236/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31 - 7 - 2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Ly;
- Ông Nguyễn Văn Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ M, tỉnh An G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ M xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 252/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ M, tỉnh An G. Địa chỉ liên lạc: số 556, ấp Giồng Ngánh, xã Hiệp Mỹ Tây, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà V, (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: số 816, ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ M, tỉnh An G, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ T trình bày: Bà và ông T do quen biết, tự tìm hiểu nên tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 29/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ M, tỉnh An G. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau đã ly thân được khoảng 02 năm nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà Trần Thị Mỹ T xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T
- Về quan hệ con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014 và Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh ngày 16/5/2019. Hiện con chung tên Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014 đang sống với bà Trần Thị Mỹ T và Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh ngày 16/5/2019 đang sống với ông T; khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
- Về quan hệ nợ chung: Bà T trình bày không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Thống nhất với những gì mà bà Trần Thị Mỹ T trình bày nhưng ông Nguyễn Văn T không đồng ý ly hôn vì cảm thấy còn Tơng vợ và mong muốn các con có được sống chung với ba và mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Mỹ T đối với ông Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Mỹ T được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014 và ông Nguyễn Văn T được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh ngày 16/5/2019; ông T, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
- Về quan hệ nợ chung: Ông T, bà T trình bày không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Mỹ T khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Ông T có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ M, tỉnh An G. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ M thụ lý giải quyết là đúng theo thẩm quyền.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2012 ông, bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn của ông bà là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, theo bà T trình bày mâu thuẫn phát sinh từ việc vợ chồng không tôn trọng nhau, tính tình không hợp, trong thời gian chung sống Tờng xảy ra bất hòa, cả hai đã cố gắng tìm cách hàn gắn vẫn không thể nào chung sống với nhau và không còn chung sống với nhau từ năm 2022 đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy: bà Trần Thị Mỹ T xin ly hôn, do cuộc sống chung vợ chồng không được hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Mỹ T.
Về quan hệ con chung: Có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014 và Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh ngày 16/5/2019. Hiện con chung tên Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014 đang sống với bà Trần Thị Mỹ T và Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh ngày 16/5/2019 đang sống với ông T; khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ngày 24/4/2024 ghi nhận ý kiến đối với cháu Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014 thì nguyện vọng cháu Trúc Thanh khi cha mẹ không còn sống chung với nhau nữa thì cháu mong muốn sống chung với mẹ là bà Trần Thị Mỹ T. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi bà T, ông T không còn sống chung trong khoảng thời gian dài; thì bà T và ông T vẫn đảm bảo về điều kiện chăm sóc tốt cho 02 cháu Trúc Thanh và Kim Thanh. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp 02 cháu Trúc Thanh và Kim Thanh phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử nghỉ nên giao cháu Trúc Thanh cho bà T được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Kim Thanh cho ông T được trực tiếp trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung do bà T, ông T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Ông T, bà T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông, bà có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T, bà T thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà Trần Thị Mỹ T khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà T và ông T trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuât trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà T và ông T trong thời kỳ hôn nhân thì bà T và ông T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
- - Các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Mỹ T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Trúc Thanh, sinh ngày 06/10/2014; ông Nguyễn Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim Thanh, sinh ngày 16/5/2019. Ông T, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung: Ông T, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận ông T, bà T trình bày không có nợ chung. Nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông T, bà T trong thời kỳ hôn nhân thì ông T, bà T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Bà Trần Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0015329 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An G. Bà Trần Thị Mỹ T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 57/KH, Quyển số: 01/2012 ngày 29/02/2012 của Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ M, tỉnh An G; cấp cho bà Trần Thị Mỹ T và ông Nguyễn Văn T, không còn giá trị pháp lý.
Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị Mỹ T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng ông, bà có quyền tới lui trông nôm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T bà T thực hiện quyên này.
Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Thanh |
5
Bản án số 236/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN G về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 236/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ M, TỈNH AN G
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
