|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 236/2023/HS-ST Ngày 20-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kiều Dâng- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 245/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Phạm Bá D, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 08/24/32 xóm Trung, phường ĐG, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá Hiển và bà Nguyễn Thị Hồng Vân; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ-XPHC ngày 25/8/2022 của Công an quận NQ, thành phố Hải Phòng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 121/QĐ-XPHC ngày 10/5/2021 của Công an quận NQ, thành phố Hải Phòng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 117/QĐ-XPHC ngày 17/5/2022 của Công an quận NQ, thành phố Hải Phòng về hành vi đánh bạc; bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 7 năm 2023, chuyển tạm giam ngày 06 tháng 7 năm 2023; có mặt.
- Phạm Hải N, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2001 tại Bắc Giang; nơi thường trú: Số 46C1, tổ 3, xóm Trung, phường ĐG, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú hiện nay: Số 28/132 Phương Lưu, phường Đông Hải 1, quận HA, thành phố Hải Phòng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Bình và bà Phạm Thị Nhung; có vợ là Nguyễn Thị Thanh Phương và có 01 con; tiền án và tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 7 năm 2023, chuyển tạm giam ngày 06 tháng 7 năm 2023; có mặt.
- Bị hại: Ông Lee Chang Ho, sinh năm 1982; Quốc tịch: Hàn Quốc; địa chỉ tạm trú: Khách sạn Mercure, số 21 LT, quận NQ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua đến vụ án: Ông Hoàng Quốc Duy, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố số 03, thị trấn AD, huyện AD, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 62 Đoàn Kết, phường ĐH, quận HA, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 01/7/2023, Phạm Hải N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58 đến nhà chở Phạm Bá D đi chơi điện tử. Trên đường đi D nảy sinh ý định rủ N cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài, N đồng ý. Cả 2 đi lòng vòng tìm người sơ hở để cướp giật, đến khu vực trước cửa số nhà 137 Văn Cao, ĐG, NQ, Hải Phòng, phát hiện ông Lee Chang Ho, sinh năm 1982, quốc tịch Hàn Quốc, tạm trú tại: Phòng 1111 Khách sạn Mercure, số 21 LT, NQ, Hải Phòng đang cầm 01 chiếc điện thoại đứng trên vỉa hè sát lòng đường. D bảo N điều khiển xe máy áp sát còn D ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay ông Lee Chang Ho rồi tăng ga bỏ chạy ra đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/7/2023, N chở D mang điện thoại cướp giật được đến cửa hàng Hưng Thảo, địa chỉ: số 62 đường Đoàn Kết, ĐH, HA, Hải Phòng bán cho anh Hoàng Quốc Duy, sinh năm 1982, trú tại: Tổ dân phố số 3, thị trấn AD, AD, Hải Phòng được 2.000.000 đồng. Anh Duy chuyển trả vào tài khoản cho N 1.500.000 đồng và đưa 500.000 đồng tiền mặt, N chuyển tài khoản chia cho D 750.000 đồng, còn 500.000 đồng cả hai chi tiêu và chơi điện tử hết.
Ngày 03/7/2023, Phạm Bá D, Phạm Hải N đến Công an quận NQ đầu thú; giao nộp 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58. Cùng ngày, anh Hoàng Quốc Duy tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại iPhone 11 màu trắng cho Cơ quan điều tra.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Hải N, thu giữ: 01 áo thun màu đen, 01 quần màu đùi đen, 01 đôi dép màu xanh trắng in logo chữ V. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Bá D, thu giữ: 01 áo thun có cổ màu ghi, 01 quần lửng màu cam đen, 01 đôi dép màu ghi có in logo NIKE.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28 ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận NQ kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.600.000 đồng.
Kết quả giám định và xác minh chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58 là của Phạm Hải N, số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa ký tự.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Bá D và Phạm Hải N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại iPhone 11 cho ông Lee Chang Ho. Đối với 02 áo thun, 02 quần màu đùi đen, 02 đôi dép và chiếc xe máy Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58 chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lee Chang Ho đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường, anh Hoàng Quốc Duy không yêu cầu các bị can bồi thường số tiền mua điện thoại.
Tại bản Cáo trạng số 245/CT-VKS-P3 ngày 06 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Bá D và Phạm Hải N về tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Bá D từ 48 đến 54 tháng tù; Phạm Hải N từ 42 đến 48 tháng tù; đều về tội Cướp giật tài sản.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ vật chứng là 01 áo thun màu đen, 01 quần màu đùi đen, 01 đôi dép màu xanh trắng in logo chữ V của Phạm Bá D; 01 áo thun có cổ màu ghi, 01 quần lửng màu cam đen, 01 đôi dép màu ghi có in logo NIKE của Phạm N Hải; tịch sung quĩ Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58 của bị cáo Phạm Hải N.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng, các bị cáo xin được khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và các người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; vật chứng thu giữ được; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/7/2023, Phạm Bá D và Phạm Hải N đã có hành vi sử dụng xe máy để cướp giật 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 trị giá 7.600.000 đồng. Hành vi của các các bị cáo đã cấu thành tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân; các bị cáo sử dụng xe máy cướp giật tài sản của khách nước ngoài rồi bỏ chạy với tốc độ cao không những có thể gây nguy hiểm cho những người tham gia giao thông khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của Thành phố đang trong quá trình hội nhập, phát triển, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian. Nhưng cũng xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng do tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi đầy đủ, thái độ khai báo thành khẩn, sau khi phạm tội đã ra đầu thú.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải(điểm s) do đã khai báo trung thực các tình tiết liên quan đến vụ án và tỏ ra hối hận về việc làm của mình. Ngoài ra, các bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là: sau khi phạm tội đã ra đầu thú.
Về vai trò và quyết định hình phạt:
[6] Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, nên cần căn cứ Điều 58 Bộ luật hình sự để đánh giá vai trò và quyết định hình phạt. Các bị cáo phạm tội đều không phải chịu tình tiết tăng nặng và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ. Nhưng xét vai trò bị cáo Phạm Bá D là người đề xuất việc phạm tội, trực tiếp giật điện thoại của bị hại; nhân thân xấu có 01 tiền sự và 2 lần bị xử phạt hành chính đã được xoá nên phải chịu mức hình phạt cao hơn; bị cáo Phạm Hải N tham gia đồng phạm tích cực, nhưng có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nên được hưởng mức hình phạt thấp hơn. Mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo theo ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[7]Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các vật chứng của vụ án gồm 01 áo thun màu đen, 01 quần màu đùi đen, 01 đôi dép màu xanh trắng in logo chữ V của Phạm Bá D; 01 áo thun có cổ màu ghi, 01 quần lửng màu cam đen, 01 đôi dép màu ghi có in logo NIKE của Phạm Hải N đều đã cũ, còn rất ít giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ; chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58, số khung RLHJF4611EY047184; số máy JF46E-2068843của bị cáo Phạm Hải N sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[9] Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;
- - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Bá D và Phạm Hải N đều phạm tội Cướp giật tài sản;
- - Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Bá D 48 (bốn mươi tám) tháng tù; bị cáo Phạm Hải N 42 (bốn mươi hai) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với các bị đều tính từ ngày tạm giữ 03/7/2023.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- + Tịc thu, tiêu huỷ 01 áo thun màu đen, 01 quần màu đùi đen, 01 đôi dép màu xanh trắng in logo chữ V của Phạm Bá D; 01 áo thun có cổ màu ghi, 01 quần lửng màu cam đen, 01 đôi dép màu ghi có in logo NIKE của Phạm Hải N.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số 15P1-002.58, số khung RLHJF4611EY047184; số máy JF46E2068843 của bị cáo Phạm Hải N
- (Vật chứng được ghi nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
- - Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Hạnh |
6
Bản án số 236/2023/HS-ST ngày 20/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 236/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dũng 48 tháng tù. Bị cáo Ngọc 42 tháng tù
