|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 236/2025/DS-ST Ngày: 25 – 11-2025 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội Đồng Xét Xử Sơ Thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Phước Lộc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Kim Ly
2. Ông Dương Thành Phúc
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân Khu Vực 8 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hà Duy Phúc – Kiểm sát viên
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2025/QĐXXST-DS, ngày 27 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2025/QÐST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K3
Địa chỉ: 4 P, phường R, tỉnh An Giang
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, chức vụ: Phó Tổng giám đốc (Quyết định ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023)
Người được ủy quyền: Ông Tạ Chí D, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, phường H, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 1354/QĐ-NHKL ngày 24/5/2024)
Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1980 (vắng mặt) và bà Dương Thị N, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã G, tỉnh An Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1945 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã G, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện phía nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K3 trình bày:
Tháng 02/2022, ông Trần Văn K và bà Dương Thị N đến Ngân hàng TMCP K3 - Phòng G (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng). Ông Trần Văn K và bà Dương Thị N dùng tài sản do ông K, bà N đứng tên là Quyền sử dụng đất để thế chấp, bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nêu trên. Cụ thể việc vay và bảo đảm cho khoản vay được thể hiện trong Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp sau đây:
-
Hợp đồng tín dụng từng lần Số 232/22/HĐTD/1004-8404 ngày 23/3/2022:
- - Số tiền vay: 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng)
- - Mục đích vay: Bổ sung vốn phục vụ SXNN + Chăn nuôi
- - Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
- - Ngày giải ngân: 24/3/2022
- - Lãi suất vay: 11,1%/năm áp dụng đối với các Khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng này. Các Khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất vay bằng (=) lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của BLS HĐ KHCN tại thời điểm giải ngân cộng (+) 3.8%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (Cùng loại hình và phương thức vay). Lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng Khế ước nhận nợ.
- - Lãi suất nợ quá hạn: bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- - Lãi suất lãi chậm trả: 10%/năm.
- - Hình thức thanh toán: Kỳ hạn trả lãi vay: 06 tháng/lần, nợ gốc trả cuối ký;
- - Số lần trả nợ gốc: 01 kỳ.
- Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0387/20/HĐTC-BĐS/1004-8404 ngày 18/3/2020 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Trần Văn K, bà Dương Thị N và đã được Văn Phòng C công chứng ngày 18/3/2020,
Tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay này là Quyền sử dụng đất theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 214235 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 13/7/2017, thửa đất số ...., Tờ bản đồ số...., diện tích 30.000m², mục đích sử dụng đất: Nuôi trồng thủy sản; Thời hạn sử dụng đất: 07/2064, tọa lạc Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang, đứng tên ông Trần Văn K1 và bà Dương Thị N.
Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G ngày 18/3/2020
Đến hạn trả nợ, ông Trần Văn K và bà Dương Thị N không thanh toán nợ đúng hạn cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng từng lần số 232/22/HĐTD/1004-8404 ngày 23/3/2022; dẫn đến khoản vay chuyển sang nhóm nợ xấu; làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn, quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP K3.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:
- + Buộc ông Trần Văn K và bà Dương Thị Ngọc T1 cho Ngân hàng TMCP K3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/11/2025 là 468.755.265 đồng (bốn trăm sáu mươi tám triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng). Trong đó, dư nợ gốc là 270.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 19.106.088 đồng, tiền lãi chậm trả là 5.114.150 đồng, lãi quá hạn là 174.755.265 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 26/11/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi ông K, bà N thanh toán dứt nợ.
- + Nếu ông Trần Văn K và bà Dương Thị N không trả hoặc trả không đủ nợ cho Ngân hàng khi Bản án hoặc Quyết định giải quyết của Tòa án có hiệu lực thi hành thì Ngân hàng có quyền buộc ông Trần Văn K và bà Dương Thị N phải có nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0387/20/HĐTC-BĐS/1004-8404 ngày 18/3/2020 cho Ngân hàng xử lý, thu hồi nợ theo quy định của pháp luật hoặc Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên để thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Đối với bị đơn ông Trần Văn K và bà Dương Thị N: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K, bà N thông qua ông Trần Thanh T là cha ở cùng nhà với ông K, bà N nhận thay. Nhưng ông K, bà N không đến Tòa án để làm việc cũng không gửi bản khai trình bày ý kiến của mình nên trong hồ sơ không có lời khai của ông K, bà N.
Theo biên bản lấy lời khai, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 trình bày:
Ông là cha ruột của ông Trần Văn K, việc vợ chồng ông K, bà N vay tiền và thế chấp đất của Ngân hàng K3 thì ông có biết. Hiện ông đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản là đất vuông nuôi tôm mà vợ chồng ông K, bà N đang thế chấp tại Ngân hàng K3. Trong trường hợp tài sản này bị kê biên, phát mãi thì ông sẽ tự nguyện bàn giao đất và cam kết không có tranh chấp gì, ngoài ra ông không còn bất kỳ yêu cầu gì.
Các văn bản, thông báo mà Tòa án tống đạt cho con tôi Trần Văn K, Dương Thị N mà tôi là người nhận thay thì tôi đều thông báo cho các con tôi biết, nhưng do hai con tôi bận đi làm nên không thể tới Tòa án làm việc.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu và đề nghị giải quyết vụ kiện như sau:
- - Về Tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như qua theo dõi diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định quan hệ tranh chấp, đưa người tham gia tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ và tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tuy nhiên Tòa án còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Trần Văn K và bà Dương Thị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến của mình về nội dung việc kiện, do đó Tòa án đưa ra xét xử là đúng pháp luật và bị đơn được thực hiện quyền của mình khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả khoản nợ vay là có cơ sở, bởi việc này chứng minh qua hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên, do ông Trần Văn K và bà Dương Thị Ngọc vi P thỏa thuận thanh toán ghi trong hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện là đúng pháp luật. Qua đó đề nghị giải quyết buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo yêu cầu, Trường hợp ông Trần Văn K và bà Dương Thị Ngọc K2 thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K3 có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp bất động sản đã ký để thu hồi nợ. Đồng thời bị đơn phải chịu án phí theo giá ngạch và chi phí tố tụng, hoàn trả án phí tạm nộp cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần K3 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà ông Trần Văn K, bà Dương Thị N trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng, ông K, bà N có nơi cư trú tại ấp T, xã G, tỉnh An Giang. Nên căn cứ quy khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định đây là vụ kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang.
[2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Trần Văn K, bà Dương Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh T đã được triệu tập hợp lệ tới phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do, nên căn cứ quy định tại khoản 2 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông K, bà N và ông T
[3] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K3 khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn K và bà Dương Thị Ngọc T1 số nợ gốc 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh, đồng thời cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là hồ sơ vay vốn được ký giữa Ngân hàng K3 với ông K, bà N. Nhưng do ông K, bà N vi phạm thỏa thuận thanh toán nợ ký trong hợp đồng, nên ngân hàng yêu cầu trả nợ.
Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của pháp luật tại khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.
Đối với bị đơn ông Trần Văn K, bà Dương Thị N từ khi thụ lý tới khi xét xử Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng nhưng ông K, bà N không có ý kiến phản đối nào đối với chữ ký của mình tại hợp đồng và yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K3, cho thấy ông K, bà N mặc nhiên thừa nhận mình có nợ Ngân hàng TMCP K3 số tiền gốc và tiền lãi tính trên hợp đồng đã ký kết. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
Xét hợp đồng vay tài sản là tiền giữa Ngân hàng TMCP K3 với ông Trần Văn K, bà Dương Thị N là Hợp đồng tín dụng từng lần Số 232/22/HĐTD/1004-8404 ký ngày 23/3/2022, trong đó Điều 3 của Hợp đồng quy định các kỳ trả lãi lãi, nợ gốc và tại Điều 7 của Hợp đồng tín dụng quy định về chuyển nợ quá hạn, tiền lãi nợ quá hạn, tiền lãi chậm trả và phân loại nợ “Bên A chuyển nợ quá hạn đối với số dư nợ gốc mà bên B không trả được đúng hạn theo thỏa thuận tại Điều 3 HĐTD này mà không được bên A chấp thuận cơ cấu lại thời gian trả nợ. Đối với số dư nợ gốc mà bên B không trả nợ đúng hạn và bị chuyển thành nợ quá hạn thì bên B phải trả cho bên A tiền Lãi nợ quá hạn theo quy định tại khoản 2 điều này”
Như vậy, việc ông K, bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vay là vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K, bà N trả lại số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/11/2025 tổng cộng 468.755.265 đồng (bốn trăm sáu mươi tám triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng). Trong đó, dư nợ gốc là 270.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 19.106.088 đồng, tiền lãi chậm trả là 5.114.150 đồng, lãi quá hạn là 174.755.265 đồng, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên có có sở để chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu về việc xử lý tài sản bảo đảm:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0387/20/HĐTC-BĐS/1004-8404 ngày 18/3/2020 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Trần Văn K, bà Dương Thị N và đã được Văn Phòng C công chứng ngày 18/3/2020.
Tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay này là Quyền sử dụng đất theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 214235 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày 13/7/2017, thửa đất số ...., Tờ bản đồ số...., diện tích 30.000m², mục đích sử dụng đất: Nuôi trồng thủy sản; Thời hạn sử dụng đất: 07/2064, tọa lạc Ấp T, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang, đứng tên ông Trần Văn K và bà Dương Thị N. Tài sản thế
chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G ngày 18/3/2020.
Xét tính pháp lý hợp đồng thế chấp trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163. Theo đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật thi hành.
Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí và chi phí tố tụng:
- - Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Về chi phí tố tụng khác: Ông Trần Văn K và bà Dương Thị N phải trải lại cho Ngân hàng TMCP K3 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000đ (năm triệu đồng) mà phía Ngân hàng TMCP K3 đã nộp trước đó.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
1. Tuyên xử: Buộc ông Trần Văn K và bà Dương Thị N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K3 số tiền 468.755.265 đồng (bốn trăm sáu mươi tám triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng). Trong đó, dư nợ gốc là 270.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 19.106.088 đồng, tiền lãi chậm trả là 5.114.150 đồng, lãi quá hạn là 174.755.265 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/11/2025) cho đến khi thi hành án xong ông Trần Văn K và bà Dương Thị N còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng đã ký nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Trần Văn K và bà Dương Thị N không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần K3 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0387/20/HĐTC-BĐS/1004-8404 ngày 18/3/2020 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Trần Văn K, bà Dương Thị N và đã được Văn Phòng C công chứng ngày 18/3/2020.
3. Về án phí và chi phí tố tụng khác
- - Về án phí: Buộc bị đơn ông Trần Văn K và bà Dương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 22.750.211 đồng (hai mươi hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn hai trăm mười một đồng)
- Ngân hàng Thương mại cổ phần K3 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.032.000 đồng (tám triệu không trăm ba mươi hai nghìn đồng) theo lai thu số 0001468 ngày 16/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8, tỉnh An Giang).
- - Về chi phí tố tụng khác: Buộc bị đơn ông Trần Văn K và bà Dương Thị N phải trải lại cho Ngân hàng TMCP K3 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.000.000đ (năm triệu đồng) mà phía Ngân hàng TMCP K3 đã nộp trước đó.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/11/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Phước Lộc |
Bản án số 236/2025/DS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 236/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng - Ngân hàng TMCP Kiên Long + Trần Văn Kía
