|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 236 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 22-5-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Trần Thị Thương và anh Trần Mạnh Duy |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Triệu Văn Giản.
- Bà Hà Thị Cúc.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 145/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1990; số căn cước công dân: [...]; nơi thường trú: Số D T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số D T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Mạnh D, sinh năm 1988; số căn cước công dân: [...]; nơi thường trú: Số G G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (hiện đang chấp hành án tại: Đội 40 – K, Trại Giam S, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An); có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 04-4-2025 và bản tự khai ngày 10-4-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:
Chị và anh Trần Mạnh D có thời gian tìm hiểu trong khoảng 01 năm rồi tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N vào ngày 15-12-2008 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị và anh Trần Mạnh D chung sống tại: Số G G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 5-2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính cách không hợp nhau bất đồng quan điểm với nhau về nhiều vấn đề trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh luận, cãi cọ. Vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện và đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn kéo dài, không có tiếng nói chung. Từ cuối năm 2017 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Anh Trần Mạnh D có hành vi vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại: Đội 40 – K, Trại Giam S, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng và không thể khắc phục, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Mạnh D ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Trần Mạnh D có 02 con chung là Trần Trung H, sinh ngày 05-02-2009 và Trần Bảo A, sinh ngày 08-3-2016. Hiện tại hai con chung đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng xin nuôi cả hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Trần Mạnh D phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 23-4-2024, bị đơn là anh Trần Mạnh D trình bày:
Anh và chị Trần Thị T sau thời gian tìm hiểu đã tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N vào ngày 15-12-2008 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến giữa năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2017.
Về con chung: Anh và chị Trần Thị T có hai con chung là Trần Trung H, sinh ngày 05-02-2009 và Trần Bảo A, sinh ngày 08-3-2016. Nếu vợ chồng ly hôn, anh đồng ý để chị Trần Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con vì hiện nay anh đang chấp hành án không có điều kiện để nuôi con. Đến khi anh chấp hành án xong anh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng hai con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh nhất trí với quan điểm của chị Trần Thị T không yêu cầu anh phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh Trần Mạnh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung ngày 10-4-2025, cháu Trần Trung H đã trình bày nguyện vọng: Trong trường hợp Tòa án xử ly hôn cho bố mẹ cháu thì cháu muốn được ở với mẹ cháu là Trần Thị T. Tại đơn đề nghị trình bày nguyện vọng của con chung đề ngày 09-4-2025, cháu Trần Bảo A đã trình bày nguyện vọng: Trong trường hợp Tòa án xử ly hôn cho bố mẹ cháu thì cháu muốn được ở với mẹ cháu là Trần Thị T.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Xử ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D.
- - Về con chung: Giao cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Trung H, sinh ngày 05-02-2009 và Trần Bảo A, sinh ngày 08-3-2016. Anh Trần Mạnh D không phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Buộc chị Trần Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Trần Thị Thương yêu C Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Mạnh D, giải quyết về người trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn là anh Trần Mạnh D không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự
1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn là anh Trần Mạnh D có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số G G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, hiện đang chấp hành án tại: Đội 40 – K, Trại Giam S, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
1.3. Về sự có mặt của các đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn là chị Trần Thị T và bị đơn là anh Trần Mạnh D đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D có thời gian tìm hiểu nhau trước khi kết hôn, sau đó đã tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện. Hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N vào ngày 15-12-2008. Như vậy, hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D chung sống tại địa chỉ: Số G G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra bình thường cho đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng về quan điểm. Hai bên đã nhiều lần nói chuyện với nhau để khắc phục tình cảm vợ chồng nhưng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2017. Hiện tại, chị Trần Thị Thương yêu C Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung:
Chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D có 02 con chung là Trần Trung H, sinh ngày 05-02-2009 và Trần Bảo A, sinh ngày 08-3-2016. Xét thấy chị Trần Thị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và có đủ điều kiện để nuôi con; anh Trần Mạnh D đang chấp hành án và cũng có quan điểm đề nghị Tòa án giao hai con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử giao cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Trần Hà M, sinh ngày 14-4-2015 và Trần Anh N, sinh ngày 20-01-2019.
2.3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:
Xét thấy việc chị Trần Thị T không yêu cầu anh Trần Mạnh D phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận.
2.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:
Chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:
Chị Trần Thị T là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Trần Trung H, sinh ngày 05-02-2009 (giới tính: Nam) và Trần Bảo A, sinh ngày 08-3-2016 (giới tính: Nữ).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị T không yêu cầu anh Trần Mạnh D cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Án phí:
Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị T đã nộp tại biên lai số 0002716 ngày 04-4-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Trần Thị T đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo:
Chị Trần Thị T và anh Trần Mạnh D có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
6
Bản án số 236/2025/HNGĐ-ST ngày 22/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 236/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
