Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/HS-ST

Ngày 16-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoà

Ông Nguyễn Ngọc Hấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nga – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 245/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Duy K, sinh năm 2002, tại tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ B khu V, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Tuấn M và bà Vũ Thị L; vợ con chưa có; Theo danh chỉ bản số 437 do Công an quận H lập ngày 28/8/2024 và lý lịch địa phương cung cấp: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/8/2024 đến ngày 29/8/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Đỗ Hữu H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Số B T, phường T, quận T, Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Anh Lê Ngọc M1, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Số 39 F5 Tập thể cao su vàng, ngõ D K, phường T, quận T, Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Anh Trần Anh T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Tổ A phường G, quận H, Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Anh Trần Văn K1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Tổ D V, xã M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Anh Vũ Việt H1, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Xóm B xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua tìm hiểu, anh Đỗ Hữu H (sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Số B T, phường T, quận T, Hà Nội) biết Trịnh Duy K có hoạt động cho vay tiền lấy tiền lãi nên ngày 14/7/2024, anh H nhắn tin cho K hỏi vay tiền, K bảo anh H gửi địa chỉ, ảnh nhà, căn cước công dân, nơi làm việc cho K qua tài khoản zalo “Ka”, số điện thoại 0349.071.xxx để kiểm tra thông tin. Sau khi kiểm tra thông tin, K đồng ý cho anh H vay tiền, các lần vay tiền cụ thể như sau:

  • - Khoản vay thứ nhất: Ngày 14/7/2024, K đã cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng. K đã chuyển khoản cho anh H 68.000.000 đồng, K cắt lãi 32.000.000 đồng, tương ứng với lãi suất 467,2%/ năm (lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Thời hạn vay 25 ngày, anh H phải thanh toán cho K số tiền 4.000.000 đồng/ngày. Số tiền K thu lợi bất chính từ khoản vay trên là 30.630.000 đồng (32.000.000 đồng – (100.000.000 đồng x (20%: 365 ngày) x 25 ngày).
  • - Khoản vay thứ hai: Ngày 22/7/2024, K đã cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng. K đã chuyển khoản cho anh H 60.000.000 đồng, cắt lãi 40.000.000 đồng, tương ứng với lãi suất 584%/ năm (lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Thời hạn vay 25 ngày, anh H phải thanh toán cho K số tiền 4.000.000 đồng/ngày. Số tiền K thu lợi bất chính từ khoản vay trên là 38.630.000 đồng (40.000.000 đồng – (100.000.000 đồng x (20%: 365 ngày) x 25 ngày).
  • - Khoản vay thứ ba: Ngày 30/7/2024, K đã cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng. K đã chuyển khoản cho anh H 56.000.000 đồng, cắt lãi 44.000.000 đồng, tương ứng với lãi suất 642,4%/ năm (lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự). Thời hạn vay 25 ngày, anh H phải thanh toán cho K số tiền 4.000.000 đồng/ngày. Số tiền K thu lợi bất chính từ khoản vay trên là 42.630.000 đồng (44.000.000 đồng – (100.000.000 đồng x (20%: 365 ngày) x 25 ngày).

Khoảng 10 giờ ngày 20/8/2024, Trịnh Duy K, Lê Ngọc M1 (sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Số C F Tập thể cao su sao vàng, ngõ D K, phường T, quận T, Hà Nội), Trần Anh T (sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Tổ A, phường G, quận H, Hà Nội) và chị Đỗ Thùy D (sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Số B T, phường T, quận T, Hà Nội) là vợ anh Đỗ Hữu H đang ngồi tại quán C số G L, phường C, quận H, Hà Nội để thanh toán tiền vay, còn Vũ Việt H1 (sinh năm: 2000; Nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định) đang đứng ngoài cửa quán chờ thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận H kiểm tra phát hiện và đưa về trụ sở Công an quận H giải quyết.

Thu giữ của Trịnh Duy K: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu trắng, số Imei: 359473642646794, lắp sim số 0967727785 điện thoại cũ, đã qua sử dụng. Qua kiểm tra phát hiện tin nhắn với “vợ Hải Thụy K2” và thông báo giao dịch tài khoản số xxxx4012062 mở tại ngân hàng T1 (BL127).

Thu giữ của Lê Ngọc M1: 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xám, số Imei: 356194446157522, lắp sim số 0386154262 đã qua sử dụng. Qua kiểm tra không phát hiện tin nhắn, cuộc gọi liên quan đến việc cho vay (BL 318- 319).

Thu giữ của Vũ Việt H1: 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng, số Imei 1: 353920964070389, số Imei 2: 353920964083416, lắp sim số 0366151119 đã qua sử dụng. Qua kiểm tra không phát hiện tin nhắn, cuộc gọi liên quan đến việc cho vay (BL 388– 389).

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Duy K khai nhận hành vi như đã nêu trên. K đã cho anh H vay 03 khoản với tổng số tiền 300.000.000 đồng, cắt lãi 116.000.000 đồng. Anh H đã thanh toán cho K 162.000.000 đồng tiền vay gốc. Số tiền K hưởng lợi bất chính từ việc cho anh H vay tiền là 111.890.000 đồng. Việc vay tiền thỏa thuận qua tin nhắn, không viết giấy vay nợ. Tất cả các lần giao dịch, K sử dụng tài khoản số 00004012062 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần T2 để chuyển, nhận tiền. Trong số tiền 300.000.000 đồng cho anh H vay có 100.000.000 đồng là tiền của Trần Văn K1 nhờ K ứng trước để cho khách vay. K thỏa thuận với K1 cho khách vay số tiền 100.000.000 đồng, cắt lãi 20.000.000 đồng (tương đương lãi suất 292%/năm); mỗi ngày khách trả 4.000.000 đồng trong thời hạn 25 ngày nhưng K1 chưa đưa tiền cho K còn K chưa thanh toán tiền lãi cho K1. Việc K cho anh H vay với lãi suất cao hơn, K1 không biết (BL 137 đến 168).

Căn cứ lời khai của Trịnh Duy K, Cơ quan điều tra đã xác minh xác định: Trần Văn K1 (sinh năm: 1999; Nơi cư trú: Tổ D V, xã M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh). Trần Văn K1 khai phù hợp với lời khai của Trịnh Duy K. Cuối tháng 7/2024, K1 đồng ý để K đứng ra cho khách vay 80.000.000 đồng, sau 25 ngày K sẽ thu của khách 100.000.000 đồng đưa cho K1, hưởng lợi 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, K1 chưa đưa tiền cho K, không biết K cho vay như thế nào, không rõ thông tin của người vay (BL 260 đến 276).

Lê Ngọc M1 khai nhận: Qua mạng xã hội facebook, M1 biết anh Đỗ Hữu H đang cần vay tiền nên đã gọi điện cho anh H nói có tiền muốn cho vay. Đến ngày 26/7/2024, M1 tìm hiểu biết anh H có 02 ki ốt bán hàng ở chợ Đ đang hoạt động, vợ làm giáo viên nên đã cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất “bốc bát họ 10 ăn 8”. Tức là trên giấy tờ vay nợ, anh H vay 100.000.000 đồng, cắt lãi 20.000.000 đồng (tương đương lãi suất 292%/ năm) và 8.000.000 đồng phí vay tiền, thời hạn vay 25 ngày, anh H phải đóng 4.000.000 đồng/ngày. Sau khi đã cắt lãi, phí vay tiền và số tiền anh H phải đóng ngày đầu tiên, M1 đã chuyển khoản cho anh H số tiền 68.000.000 đồng. Anh H đã thanh toán cho M1 72.000.000 đồng tiền vay gốc (BL 321 đến 332).

Trần Anh T khai nhận: Ngày 20/7/2024, T cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng, cắt lãi 20.000.000 đồng (tương đương lãi suất 292%/năm) và 4.000.000 đồng phí vay tiền, thời hạn vay 25 ngày, anh H phải đóng 4.000.000 đồng/ ngày. Sau khi đã cắt lãi, phí vay tiền và số tiền anh H phải đóng ngày đầu tiên, T đã chuyển khoản cho anh H số tiền 72.000.000 đồng. Anh H đã thanh toán cho T 72.000.000 đồng tiền vay gốc (BL 377 đến 383).

Vũ Việt H1 khai: Biết Trần Anh T làm dịch vụ cho vay tiền nên từ tháng 6/2024 H1 đi làm cùng với T và được trả lương 5.000.000 đồng/ tháng. Khoảng 09 giờ ngày 20/8/2024, T gọi điện, nhắn tin cho H1 bảo sang đón T đến quán cà phê số 75 L để thu tiền của anh H. Tại đây, H1 đứng ngoài cửa quán đợi còn T đi vào lấy tiền (BL 390 đến 395).

Anh Đỗ Hữu H khai phù hợp với lời khai của Trịnh Duy K, Lê Ngọc M1 và Trần Anh T. Anh H sử dụng tài khoản ngân hàng TMCP K3 số 19035382986015, ngân hàng TMCP Q số 0915222737 và ngân hàng TMCP V số 55347679999 đều mang tên Đỗ Hữu H để thanh toán tiền vay. Anh H đã thanh toán cho K 162.000.000 đồng tiền vay gốc; cho M1 72.000.000 đồng tiền vay gốc và cho T 72.000.000 đồng tiền vay gốc. Anh H không có yêu cầu đề nghị gì (BL 53- 54, 69 đến 72).

Như vậy, căn cứ tài liệu điều tra đủ căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2024 đến ngày 30/7/2024, Trịnh Duy K đã 03 lần cho anh Đỗ Hữu H vay tổng số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự; đã hưởng lợi bất chính 111.890.000 đồng. Hành vi nêu trên của Trịnh Duy K đã cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại bản cáo trạng số 239/CT-VKS ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trịnh Duy K về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 01/NQ- HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao xử phạt bị cáo Trịnh Duy K mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt tiền 30.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 5 Nghị quyết số 01/NQ- HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao: Buộc bị cáo Trịnh Duy K truy nộp số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và số tiền vay gốc anh Đỗ Hữu H đã thanh toán cho K là 166.110.000 đồng (4.110.000 đồng + 162.000.000 đồng) để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo Trịnh Duy K phải trả lại cho anh Đỗ Hữu H số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự đã thu của anh H là 111.890.000 đồng; Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã bồi thường, khắc phục cho anh H 50.000.000 đồng nên số tiền còn lại bị cáo phải trả lại cho anh H là 61.890.000 đồng. Buộc anh Đỗ Hữu H phải truy nộp số tiền vay gốc là 138.000.000 đồng còn nợ Trịnh Duy K để sung quỹ Nhà nước. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu trắng, số Imei: 359473642646794 thu giữ của Trịnh Duy K. Trả lại 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xám, số Imei: 356194446157522 cho anh Lê Ngọc M1; 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng, số Imei 1: 353920964070389, số Imei 2: 353920964083416 cho anh Vũ Việt H1. Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại các loại.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai của bị cáo, biên bản tạm giữ tài sản đồ vật tài liệu cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2024 đến ngày 30/7/2024, Trịnh Duy K đã 03 lần cho anh Đỗ Hữu H vay tổng số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự; đã thu lợi bất chính số tiền 111.890.000 đồng, cụ thể như sau: Lần 1: Ngày 14/7/2024, K cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 467,2%/ năm, thu lợi bất chính số tiền 30.630.000 đồng; Lần 2: Ngày 22/7/2024, K cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 584%/ năm, thu lợi bất chính số tiền 38.630.000 đồng; Lần 3: Ngày 30/7/2024, K cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 642,4%/ năm, thu lợi bất chính số tiền 42.630.000 đồng.

Khoảng 10 giờ ngày 20/8/2024, chị Đỗ Thùy D (vợ anh H) đến quán cà phê số G L, phường C, quận H, TP . để trả nợ tiền vay cho Trịnh Duy K, Lê Ngọc M1, Trần Anh T thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận H kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đến chế độ quản lý nhà nước về tín dụng; xâm phạm tài sản của người khác; xâm phạm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm nhằm giáo dục, răn đe bản thân bị cáo và còn mang tính phòng ngừa cho xã hội.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội truy tố bị cáo Trịnh Duy K về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá tình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn bố mẹ bị cáo ly hôn từ khi bị cáo còn nhỏ, bị cáo phải phụ giúp bố nuôi 03 em nhỏ ăn học, có xác nhận của chính quyền địa phương, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[6] Về quyết định hình phạt: HĐXX thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội vì mục đích vụ lợi, không mang tính chất chuyên nghiệp; bản thân bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên mở lượng khoan hồng cho bị cáo và chỉ cần xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị phạt tiền 30.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt bổ sung là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Cho tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu trắng thu giữ của bị cáo là phương tiện để thực hiện tội phạm.
  • - Trả lại 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xám cho anh Lê Ngọc M1.
  • - Trả lại 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng cho anh Vũ Việt H1.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 03 sim điện thoại: Sim số 0967.727.xxx, sim số 0386154262, sim số 0366151119.

[9] Các biện pháp tư pháp khác: Áp dụng Điều 5 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • - Số tiền 162.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo đã cho anh Đỗ Hữu H vay lãi nặng cần tịch thu ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên số tiền này anh H đã trả cho bị cáo nên bị cáo có trách nhiệm giao nộp sung ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền 138.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo đã cho anh Đỗ Hữu H vay lãi nặng cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên số tiền này anh H chưa trả cho bị cáo nên anh H có trách nhiệm giao nộp sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về số tiền lãi theo thoả thuận anh H đã thanh toán cho bị cáo là 116.000.000 đồng. Số tiền lãi bị cáo được hưởng theo mức lãi suất cao nhất 20% của Bộ luật Dân sự là 4.100.000 đồng cần truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước; Số tiền lãi bị cáo thu lời bất chính là 111.890.000 đồng nên buộc bị cáo phải trả anh H số tiền này; Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục cho anh H với số tiền là 50.000.000 đồng nên còn phải thanh toán tiếp là 61.890.000 đồng;

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp khác là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[10] Về các vấn đề khác: Lê Ngọc M1 cho anh Đỗ Hữu H vay số tiền 100.000.000 đồng, hưởng lợi bất chính số tiền 26.630.000 đồng. Trần Anh T cho anh Đỗ Hữu H vay số tiền 100.000.000 đồng, hưởng lợi bất chính số tiền 22.630.000 đồng. Trần Văn K1 thỏa thuận để Trịnh Duy K đứng ra cho khách vay 80.000.000 đồng, thời hạn vay 25 ngày, hưởng lợi bất chính 20.000.000 đồng. Mặc dù M1, T, K1 cho vay tiền với lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự nhưng số tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã có Công văn số 4699 ngày 25/10/2024 đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận H xử lý hành chính về hành vi “Không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự” theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Vũ Việt H1 được Trần Anh T thuê đi làm cùng và được trả lương 5.000.000 đồng/ tháng nên Cơ quan điều tra không xử lý, là có căn cứ đúng pháp luật

[11] Về án phí: Bị cáo bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Duy K phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

1. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Duy K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/12/2024.

Giao bị cáo Trịnh Duy K cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

* Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu trắng.
  • - Trả lại 01 điện thoại Iphone 12 promax màu xám cho anh Lê Ngọc M1.
  • - Trả lại 01 điện thoại Iphone 12 màu trắng cho anh Vũ Việt H1.
  • - Tịch thu tiêu huỷ các sim điện thoại: sim số 0967.727.xxx, sim số 0386154262, sim số 0366151119.

(Theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 20/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

3. Các biện pháp tư pháp khác: Áp dụng Điều 5 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • - Truy thu bị cáo Trịnh Duy K số tiền 162.000.000 đồng và 4.100.000 đồng, tổng cộng là 166.100.000 (Một trăm sáu mươi sáu triệu, một trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc anh Đỗ Hữu H có trách nhiệm giao nộp sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 138.000.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu đồng).
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Đỗ Hữu H số tiền 111.890.000 đồng. Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục cho anh H với số tiền là 50.000.000 đồng nên chỉ còn phải thanh toán tiếp cho anh H là 61.890.000 đồng (Sáu mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thì hành án theo quy định tại các Điều 6.7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Bị cáo Trịnh Duy K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THA quận Hoàn Kiếm;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vu liên quan;
  • - Lưu hồ sơ – VP.

(Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 236/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Duy K - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger