Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 236/2024/HSST

Ngày: 04-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Nghĩa – Giáo viên

Ông Nguyễn Bá Lý

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 243/2024/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 241/2024/QĐXXST-HS ngày 20-11-2024 đối với bị cáo:

TRẦN CAO P (tên gọi khác: Ỉ), sinh ngày 03/02/2008 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 04 tháng 02 ngày) tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Cao C, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1978; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2012; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Cao P bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17-8-2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1978; địa chỉ: 4 L, Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Cao P: Bà Trang Thị Thùy D, sinh năm 1986 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; địa chỉ: Số nhà C P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn An T2, sinh năm 2009; địa chỉ: C P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của Nguyễn An T2: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; địa chỉ: C P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

Trần Cao P làm nghề sửa chữa xe đạp điện nên được Nguyễn An T2 (sinh ngày 23/5/2009, trú tại C P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai) liên hệ sửa chữa xe. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/6/2024 đến ngày 16/6/2024, P biết được T2 có ý định lấy trộm tài sản của bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1973, trú tại C P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là mẹ ruột của T2) nên đã xúi giục T2 thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 03/6/2024, Nguyễn An T2 điều khiển xe đạp điện đến nhà Trần Cao P ở số D đường L, Tổ C, phường T, TP . để sửa chữa xe đạp điện. T2 đưa P số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) để thay bánh xe cho T2, sau đó T2 đi G về nhà. Khi về đến nhà, T2 muốn xe đạp điện chạy tốc độ nhanh hơn nên yêu cầu P thay thế phần mâm, lốp xe sau cho kích thước lớn hơn, thay cục điều khiển trung tâm, bình ắc quy công suất cao, thay phần chuyển động hộp số. Qua trao đổi trên Messenger F, P đồng ý và báo giá cho T2 biết chi phí sửa chữa xe hết 4.800.000 (Bốn triệu tám trăm ngàn đồng). Do không có tiền trả cho P nên T2 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị T1 (mẹ ruột của T2), sau đó T2 nhắn tin cho P: “Chuẩn bị tinh thần cạy két”, “Hết cách thì cạy vàng”; P biết T2 trộm cắp tài sản của gia đình để lấy tiền sửa xe nên đã xúi giục T2 thực hiện để đưa tiền cho P. Vào chiều ngày 05/6/2024, lợi dụng lúc chị Nguyễn Thị T1 không có nhà, T2 lấy trộm 02 nhẫn vàng trơn 9999 cất trong bịch ni lông màu đỏ treo ở cây phơi đồ trong nhà tắm rồi gọi điện thoại cho P đến lấy đem đi bán. Sau đó, P qua nhà T2 lấy 02 chỉ vàng rồi đem đến tiệm V, địa chỉ A H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai bán được 14.000.000 (Mười bốn triệu đồng); nhưng P nói với T2 bán 02 chỉ vàng được 5.000.000 đồng, P lấy 9.000.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng dùng để trả tiền sửa chữa xe.

- Lần thứ hai: Đến ngày 12/6/2024, Trần Cao P sửa xe xong, thì Nguyễn An T2 đến nhà P lấy xe về đi nhưng T2 đi được thời gian ngắn thì xe hư, không sử dụng được; chiều cùng ngày, P đến nhà T2 để lấy xe sửa chữa tiếp. Tại đây, P tiếp tục nói T2 lấy trộm thêm 01 chỉ vàng nữa để có tiền sửa chữa, nâng cấp xe đạp điện; T2 đồng ý lấy trộm thêm 01 chỉ vàng của bà T1 để ở phòng tắm rồi đưa cho P, sau đó P đem 01 chỉ vàng đến tiệm V1, địa chỉ E L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai bán được số tiền 7.050.000 (Bảy triệu không trăm năm mươi ngàn đồng), P về nói với T2 là bán 01 chỉ vàng này được 2.500.000 đồng; P lấy 340.000 đồng tiền sửa xe, số tiền còn lại P dùng tiêu xài cá nhân hết.

- Lần thứ ba: Đến ngày 13/6/2024, Nguyễn An T2 qua nhà P lấy xe đi tạm để tránh bị bố mẹ phát hiện rồi chờ P mua phụ kiện về thì sửa chữa tiếp. Ngày 15/6/2024, P nhắn tin cho T2 nói xe cần thay thêm dây điện, ốc vít, cục điều khiển trung tâm mới nên xúi giục T2 lấy thêm vàng để chi trả tiền sửa chữa, T2 đồng ý. Ngày 16/6/2024, T2 lấy 02 chỉ vàng của bà T1 và 01 giấy mua bán vàng của cửa hàng Kim Hồng L tại phòng tắm rồi đưa cho P. P đem 02 chỉ vàng trơn đi bán tại tiệm V2, địa chỉ E L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai được 14.000.000 (Mười bốn triệu đồng), P sử dụng 1.500.000 đồng tiêu xài cá nhân, còn lại số tiền 12.500.000 đồng P để trong cốp xe gắn máy BKS 81AA-156.12 cùng giấy mua bán vàng trên.

Khoảng 17 giờ ngày 17/6/2024, P điều khiển xe gắn máy BKS 81AA- 156.12 đi trên đường N, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố P dừng kiểm tra, thông báo lỗi vi phạm không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, không có gương chiếu hậu, không mang theo giấy chứng nhận đăng ký xe. Quá trình lập biên bản, tạm giữ, kiểm tra xe thì phát hiện trong cốp xe của P có số tiền 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng), 01 giấy mua bán vàng. Tổ công tác yêu cầu P cung cấp nguồn gốc tài sản trên nhưng P không cung cấp được; Do đó, P được đưa về trụ sở Công an thành phố Pleiku để làm việc. Tại cơ quan Công an, P đã tự thú khai nhận hành vi xúi giục Nguyễn An T2 trộm cắp 05 chỉ vàng nói trên. Sau đó, vụ việc được chuyển đến cơ quan CSĐT Công an thành phố P để thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.

Bị cáo Trần Cao P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Tại bản kết luận số 136/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự kết luận: “05 (năm) chỉ vàng trơn 9999 (loại nhẫn đeo tay) mua ngày 04/02/2024 thì bị trộm cắp vào tháng 6/2024 (tài sản chưa thu hồi được); Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 7.000.000 đồng/1 chỉ x 5 chỉ = 35.000.000 đồng (bằng chứ: Ba mươi lăm triệu đồng)”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 247/CT-VKS ngày 11-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Cao P về tội: “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Cao P và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Cao P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Cao P với mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Vật chứng vụ án:

- Đối với số tiền 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T1.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax dung lượng 64Gb màu trắng, số Imei 3572720997 và 01 xe gắn máy BKS 81AA-156.12 nhãn hiệu DAELIM, loại SI, màu sơn đen, số máy VZS139FMB54001365, số khung RP0GCBLUMLD1365; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thanh T. Sau khi nhận lại các tài sản nêu trên, chị T không có ý kiến gì thêm đối với những tài sản này.

- Đối với 01 giấy mua bán vàng đề ngày 04/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã lưu giấy này vào trong hồ sơ vụ án.

* Về dân sự:

Sau khi nhận lại số tiền 12.500.000 đồng, bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu Trần Cao P bồi thường số tiền 16.500.000 đồng. P đã tác động gia đình bồi thường cho bà T1 số tiền 16.500.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền bồi thường, bà T1 không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với P.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Cao P phạm tội như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/6/2024 đến ngày 16/6/2024, tại nhà số B đường P, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Trần Cao P đã 03 lần thực hiện hành vi xúi giục Nguyễn An T2 (sinh ngày 23/5/2009) lén lút trộm cắp 05 (năm) chỉ vàng trơn 9999 (loại nhẫn đeo tay) trị giá 35.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị T1. Ngày 17/6/2024, P tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Cao P nhất trí như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Cao P là người có nhận thức, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài bất chính, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi xúi giục Nguyễn An T3 (chưa đủ 16 tuổi) ba lần lén lút trộm cắp 05 chỉ vàng trơn 9999 của bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 35.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo P có 02 tình tiết tăng nặng: Phạm tội hai lần trở lên và xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự thú; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp, vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét, bị cáo P có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, đối chiếu với các quy định tại Điều 31, 32, 50, 65, 91, 101 của Bộ luật hình sự. Xét nên áp dụng hình phạt tù, cho các bị cáo được hưởng án treo, bên cạnh sự giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục các bị cáo.

[4] Về dân sự: Sau khi nhận lại số tiền 12.500.000 đồng, bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu Trần Cao P bồi thường số tiền 16.500.000 đồng. P đã tác động gia đình bồi thường cho bà T1 số tiền 16.500.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền bồi thường, bà T1 không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với P. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 12.500.000 (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T1 là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax dung lượng 64Gb màu trắng, số Imei 3572720997 và 01 xe gắn máy BKS 81AA-156.12 nhãn hiệu DAELIM, loại SI, màu sơn đen, số máy VZS139FMB54001365, số khung RP0GCBLUMLD1365; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thanh T. Sau khi nhận lại các tài sản nêu trên, chị T không có ý kiến gì thêm đối với những tài sản này là phù hợp.

- Đối với 01 giấy mua bán vàng đề ngày 04/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã lưu giấy này vào trong hồ sơ vụ án.

[6] Vấn đề khác:

Đối với Nguyễn An T2 (sinh ngày 23/5/2009) là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp 05 (năm) chỉ vàng trơn 9999 (loại nhẫn đeo tay) trị giá 35.000.000 đồng có dấu hiệu phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định taị khoản 1 Điều 173 của BLHS. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, T2 mới 15 tuổi 12 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà T2 thực hiện. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xử lý hình sự mà chuyển xử phạt hành chính đối với T2 là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn T4 – Chủ tiệm V2 ở số E đường L, P. Y, TP .; anh Nguyễn Vũ Quốc U – Chủ tiệm V1 ở số E đường L, Tổ B, phường Y, TP . và anh Lưu Thế H là chủ tiệm V ở số A đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; là những người đã thu mua vàng trơn 9999 (loại nhẫn đeo tay) do Trần Cao P đem đến bán, qua điều tra xác định: Anh T4, U, H khai không nhớ, không biết việc có mua vàng của Trần Cao Phú K. Hàng ngày, họ thu mua vàng thì đã được nấu nung chảy, không còn lưu trữ. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh T4, anh U và anh H về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là phù hợp.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo chưa thành niên, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Cao P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50, Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Cao P.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Cao P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Cao P 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án 04-12-2024.

Giao bị cáo Trần Cao P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo: Trần Cao P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HSST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 236/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Cao P phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger