|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 236/2024/HS-ST Ngày: 25/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Ông Trần Văn Vinh
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 240/2024/TLST-HSST ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-HS ngày 12/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị N; Sinh năm 2001 tại Thái Nguyên; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; HKTT: tổ dân phố A, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở: ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Bùi Văn P, sinh năm 1978; Họ tên mẹ: Ngô Thị T, sinh năm 1981; Họ tên chồng: Đậu Nguyên T1, sinh năm 1992; có 01 con, sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: không
D chỉ bản số 501 do Công an huyện T lập ngày 07/08/2024
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 ngày 01/08/2024, Bùi Thị N đi đến khu vực Ngõ F thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội với mục đích mua ma túy để bán kiếm lời. N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 chỉ ma túy ke và 04 viên ma túy kẹo với giá 3.000.000 đồng. Khi mua xong, N cầm 01 gói ma túy ở lòng bàn tay trái bắt xe ôm đi đến ngõ A, xã T, huyện T, Hà Nội, N đi bộ sâu vào trong ngõ với mục đích ai có nhu cầu mua thì N sẽ bán với giá 3.800.000 đồng, N sẽ hưởng lợi 800.000 đồng.
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 01/8/2024, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại ngõ A, xã T phát hiện N có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N tự nguyện giao nộp ở lòng bàn tay trái 01 túi nilong có chưa tinh thể màu trắng và 04 viên nén màu xám được bọc bên ngoài bằng 01 tờ giấy ăn màu vàng. N khai nhận tinh thể màu trắng và 04 viên nén màu xám là ma túy dạng “kẹo”, “ke” N mang đi bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị kiểm tra và bắt giữ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật thu giữ và đưa N về trụ sở làm việc.
Qua xét nghiệm, Bùi Thị N dương tính với ma túy Ketamine.
Tại bản Kết luận giám định số 5732 ngày 11/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy Ketamine có khối lượng 0,751 gam; 04 viên nén màu xám đều là ma túy MDMA có khối lượng 2,256 gam. Cơ quan giám định đã xử dụng 0,036 gam Ketamine và 0,567 gam MDMA để tiến hành giám định, còn lại 0,751 gam Ketamine và 1,689 gam MDMA hoàn lại cho Cơ quan điều tra.
Ngày 02/8/2024 cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét nơi ở của Bùi Thị N tại ngõ F, thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội, kết quả không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến việc mua bán ma túy của N.
Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành dẫn giải Bùi Thị N chỉ vị trí mua ma túy, xác định nơi N mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu N, thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội. Qua rà soát chưa xác định được người bán ma túy cho N. N khai không biết địa chỉ và tên tuổi của người đàn ông đó nên không có căn cứ xử lý.
Đối với vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong dán kín còn nguyên vẹn, bên trong có 0,751 gam ma túy Ketamine và 1,689 gam ma túy MDMA là vật chứng của vụ án, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 218/CT-VKS-TT ngày 05/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Bùi Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong Cáo trạng.
Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt: Bùi Thị N mức án từ: 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;
- - Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Lời khai người làm chứng, Bản kết luận giám định có đủ cơ sở khẳng định:
Hồi 20 giờ 30 phút ngày 01/8/2024, tại khu vực ngõ A T, T, Hà Nội, khi Bùi Thị N đang cất giấu 0,751 gam ma túy Ketamine và 2,256 gam ma túy MDMA với mục đích bán kiếm lời thì bị Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện T kiểm tra, bắt giữ và thu giữ tang vật.
Bị cáo bị bắt giữ về hành vi mua bán nhiều chất ma túy khác nhau đều có khối lượng dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 nên tổng khối lượng các chất ma túy được xác định theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau: 2,256 gam MDMA/5 x 100%= 45,12%; 0,751 gam Ketamine/20 x 100% = 3,755%; Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy là: 45,12% + 3,755% = 48,875%.
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy dưới 100% nên hành vi của Bùi Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Bởi vì, ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, khi sử dụng trái phép, người sử dụng bị phụ thuộc hoàn toàn dẫn đến tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do tính chất nguy hiểm của ma túy nên nhà nước đã thống nhất quản lý và có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục về tác hại cũng như vai trò quản lý của nhà nước đối với chất gây nghiện này. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;
- - P1 nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Thị N 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
4. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong có 0,715 gam ma túy Ketamine (còn lại sau giám định) và 1,689 gam ma túy MDMA (còn lại sau giám định) được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
5. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
NGUYỄN VĂN THẮNG |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN THẮNG |
Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 236/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
