TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 236/2024HS-ST Ngày 22-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đình Hùng
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 207/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 223/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị P, sinh năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trịnh B và bà Đỗ Thị H; có chồng là Trần Hùng M (đã ly hôn), có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 5 năm 2024 đến ngày 06 tháng 6 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Đặng Viết Đ, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. nơi ĐKHKTT: Số 3 T2 CT1 khu 5 tầng, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn H, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Mai H1 và bà Nguyễn Thị H2; có vợ là Dương Thúy H3 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án:
Bản án số 20/2017/HSST ngày 18/01/2017 của Toà án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/7/2019, chấp hành xong án phí ngày 04/5/2017 (chưa được xoá án tích).
Bản án 73/2021/HSST ngày 29/6/2021 của Toà án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/3/2024, chấp hành xong án phí ngày 21/10/2021 (chưa được xoá án tích – bản án xác định phạm tội thuộc trường hợp tái phạm)
Bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 5 năm 2024 đến ngày 06 tháng 6 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đinh Văn C, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Huy L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 50 ngày 31/5/2024, tại nơi cư trú của Nguyễn Thị P ở thôn H, xã L, T, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện T kết hợp Công an xã L phát hiện và bắt giữ Đặng Viết Đ có có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đinh Văn C. Thấy Đ bị bắt giữ, P bỏ chạy ra phía sau nhà, lực lượng Công an đuổi theo và bắt giữ được P. Ngoài ra tại nơi bắt giữ còn có mặt Nguyễn Huy L.
T tại túi quần phía trước bên phải của Đinh Văn C có 01 túi nilon, kích thước: 1,5x2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) – mẫu số 01 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, gắn sim số: 0333.484.982, đã qua sử dụng; thu tại túi quần phía trước bên trái Đặng Viết Đ số tiền 500.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; thu tại bờ mương sau nhà Nguyễn Thị P, sát vị trí bắt giữ P có 01 hộp giấy kích thước: 3x6x10cm, bên trong có 02 túi nilon, kích thước: 4x7cm và 07 túi nilon, kích thước: 1,5x2cm đều chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy)- mẫu số 02; thu giữ tại túi quần phía trước bên phải Nguyễn Thị P 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, gắn sim số: 0942.907.311, đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, gắn sim số 0793.201.185 đã qua sử dụng; Nguyễn Huy L tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng mà L có ý định sử dụng để mua ma tuý của P.
Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Thị P, Cơ quan Công an thu giữ: tại hộp giấy, kích thước: 5x9x18 dưới chiếu sát chân giường trong phòng ngủ của Nguyễn Thị P 01 túi nilon kích thước: 1,5x2cm chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) – mẫu số 03; thu tại mặt hộp nhựa dưới chiếu sát chân giường trong phòng ngủ của Nguyễn Thị P 01 túi nilon kích thước: 1,5x2cm chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) – mẫu số 04; thu tại mặt bàn kê sát chân giường, trong phòng ngủ của Nguyễn Thị P có 01 bộ đồ để sử dụng ma tuý đá tự chế và 01 cuộn băng dính giấy màu trắng, bản rộng 05cm; 20 vỏ túi nilon kích thước 1,5x2cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 06cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn.
Tại Kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H: mẫu số 01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,01 gam, loại: Methamphetamine; mẫu số 02 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 10,45 gam, loại: Methamphetamine; mẫu số 03 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,03 gam, loại: Methamphetamine; mẫu số 04 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,03 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra:
Nguyễn Thị P khai: P nghiện ma túy đá nên P nảy sinh ý định mua ma túy đá mang về chia nhỏ để bán cho người nghiện kiếm lời. Khoảng 18 giờ ngày 30/5/2024, P sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng gặp một nam giới không quen biết hỏi mua 02 túi ma túy đá với số tiền là 5.800.000 đồng. Mua được ma túy, P mang về nhà và lấy một phần ma túy đá ra chia thành 11 túi nhỏ, P cho 02 túi ma túy lớn và 9 túi ma túy nhỏ vào hộp giấy màu hồng - trắng cất giấu ở dưới chân giường, P để một túi ma túy nhỏ ở hộp giấy kích thước: 5x9x18 và một túi ma túy nhỏ để ở mặt hộp nhựa dưới chân giường, các túi ma túy nhỏ P dự định bán với giá 200.000 đồng/01 túi, nếu khách mua nhiều, P sẽ đóng thêm ma túy để bán. Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 31/5/2024, P đang đi ngoài đường thì Đinh Văn C nhắn tin và gọi điện thoại hỏi mua của P một túi ma túy đá giá 500.000 đồng, P đồng ý và hẹn C 15 phút sau đến nơi ở của P để giao dịch, sau đó P về nhà. Khoảng 10 giờ 45 cùng ngày, C gọi điện báo đã đến cửa nhà P, P lấy một túi nhỏ ma túy ra cho thêm ma túy đá vào túi, xé băng dính giấy bọc ngoài rồi đưa cho Đặng Viết Đ là bạn trai đang chung sống cùng P mang ra cửa bán cho C và lấy 500.000 đồng, khi Đ đang giao dịch bán ma tuý cho C thì bị Cơ quan công an bắt giữ, thấy Đ bị bắt P cầm hộp giấy chứa ma túy đá chạy ra phía sau nhà vứt đi. P vừa vứt hộp giấy chứa ma túy xuống bờ mương phía sau nhà thì bị cơ quan Công an bắt giữ. Việc mua ma tuý và chia nhỏ để bán thì chỉ một mình P thực hiện, Đ biết việc P mua bán ma tuý, Đ giúp P bán ma tuý cho khách khi P bận và thu tiền đưa lại cho P để chi tiêu sinh hoạt chung cho cả hai.
Đặng Viết Đ khai: Đông chung sống với Nguyễn Thị P tại nhà của P được khoảng hơn hai tháng. Trong quá trình chung sống, Đ biết P nghiện ma túy đá và bán ma túy đá. Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 31/5/2024, Đ và P đang ở nhà của P thì P lấy một túi ma túy đá, bóc băng dính giấy bọc kín bên ngoài rồi đưa cho Đ, P bảo Đ mang ra ngoài bán cho khách và thu 500.000 đồng mang về cho P. Đ cầm túi ma túy đá đi ra ngoài cửa thi gặp Đinh Văn C và Nguyễn Huy L. C đưa cho Đ số tiền 500.000 đồng, Đ nhận tiền, cất vào túi quần phía trước bên trái rồi đưa túi ma túy đá cho C. Khi vừa giao dịch xong thì bị cơ quan công an bắt quả tang. Thấy Đ bị bắt, P chạy ra phía sau nhà, Cơ quan Công an đã truy đuổi và bắt giữ được P. Đ không tham gia việc mua ma tuý và chia nhỏ ma tuý để bán, nhưng việc P bán ma tuý thì Đ biết và khi P có việc bận thì Đ giúp P bán ma tuý cho khách nghiện rồi thu tiền về đưa lại cho P, số tiền bán ma tuý thu được P dùng chi tiêu sinh hoạt cho cả hai.
Nguyễn Huy L khai: Lợi nghiện ma tuý đá nên thường xuyên phải đi mua ma tuý về sử dụng, khoảng 10 giờ 45 phút ngày 31/5/2024, L đến nơi ở của Nguyễn Thị P để mua ma tuý sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp hỏi mua thì chứng kiến việc lực lượng Công an bắt giữ đối với Nguyễn Thị P và Đặng Viết Đ. Đây là lần đầu tiên L đi tìm mua ma tuý của P, L tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng của bản thân với mục đích đi mua ma tuý.
Ngoài lần bán ma tuý bị bắt quả tang, trước đó Nguyễn Thị P và Đặng Viết Đ còn bán trái phép ma tuý những lần khác như sau:
Lần thứ nhất: khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 27/5/2024, P đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đào Trọng Đ1 hỏi mua 01 túi ma tuý đá giá 500.000 đồng, P đồng ý hẹn đến nơi ở của P để giao dịch. Sau đó, Đ1 góp chung tiền cùng Hoàng Phú T1 để mua ma tuý để chia nhau tự sử dụng và cùng đi đến nhà P, P lấy 01 túi ma tuý đá đưa cho Đặng Viết Đ bảo Ð mang ra bán cho Đ1 và lấy 500.000 đồng vào đưa cho P. Đ cầm túi ma tuý đá ra bán cho Đ1 rồi vào đưa lại cho P 500.000 đồng.
Lần thứ hai: khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 29/5/2024, P đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đào Trọng Đ1 hỏi mua 01 túi ma tuý đá giá 500.000 đồng. P đồng ý hẹn Đ1 đến khu vực tái định cư xã L, T, Hải Phòng để giao dịch mua bán ma tuý. Sau đó, Đ1 và và Đinh Văn C chung tiền để mua ma tuý chia nhau tự sử dụng và cùng đi đến điểm hẹn với P. Khi đến nơi P gặp Đ1 đi cùng C, tại đây Đ1 đưa cho P 500.000đồng, P nhận tiền rồi bán cho Đ1 01 túi ma tuý đá.
Lần thứ ba: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 30/5/2024, P đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Đinh Văn C hỏi mua 01 túi ma tuý đá giá 500.000 đồng, P đồng ý hẹn C đến nơi ở của P để giao dịch. Sau đó, C chung tiền cùng Đỗ Văn T2 để mua ma tuý chia nhau tự sử dụng và cùng đến nơi ở của P. Tại đây, C đưa cho P 500.000 đồng, P nhận tiền rồi bán lại cho C 01 túi ma tuý đá.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong số 649MT/PC09 chứa gồm 9,67 gam, ma tuý, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định; số tiền 700.000 đồng; 20 vỏ túi nilon kích thước 1,5x2cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 06cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn; 01 hộp giấy kích thước 3x6x10cm màu hồng - trắng; 01 bộ đồ để sử dụng ma tuý đá tự chế và 01 cuộn băng dính giấy màu trắng, bản rộng 05cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, gắn sim số: 0333.484.982, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, gắn sim số: 0942.907.311, đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, gắn sim số 0793.201.185 đã qua sử dụng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên quản lý.
Các đối tượng Nguyễn Huy L, Đinh Văn C, Đào Trọng Đ1, Hoàng Phú T1, Đỗ Văn T2 khai phù hợp với lời khai của P, Đ như nội dung nêu trên.
Bản Cáo trạng số 225/CT-VKSTN ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố Đặng Viết Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa: Các bị cáo đều khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên. Các bị cáo nhất trí với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 09 năm 06 tháng tù tù đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/5/2024. Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
- - Áp dụng điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Viết Đ từ 10 năm đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/5/2024. Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 649MT/PC09 chứa gồm 9,67 gam, ma tuý, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định; 20 vỏ túi nilon kích thước 1,5x2cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 06cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn; 01 hộp giấy kích thước 3x6x10cm màu hồng - trắng; 01 bộ đồ để sử dụng ma tuý đá tự chế và 01 cuộn băng dính giấy màu trắng, bản rộng 05cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những tài liệu chứng cứ đã được thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh, điều luật áp dụng và định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/5/2024 đến ngày 31/5/2024, tại nơi ở của mình và khu vực tái định cư thuộc xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thị P đã bán trái phép ma tuý 04 lần và cho nhiều người (Đinh Văn C, Đào Trọng Đ1, Hoàng Phú T1, Đỗ Văn T2). Trong 04 lần trên thì Đặng Viết Đ giúp cho Nguyễn Thị P bán ma tuý 02 lần và cho nhiều người (Đào Trọng Đ1, Hoàng Phú T1, Đinh Văn C), bị Công an phát hiện bắt quả tang vào ngày 31/5/2024. Khối lượng ma túy Công an thu giữ là 10,52 gam, loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của Nguyễn Thị P, Đặng Viết Đông Đ2 cơ sở cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Ngoài ra, Đặng Viết Đ có 02 tiền án chưa được xoá án tích nên Đ còn phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần buộc các bị cáo cách ly xã hội một thời gian dài để cải tạo giáo dục, răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm “Mua bán trái phép chất ma tuý” nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
[6] Về vai trò: Các bị cáo không có việc bàn bạc, phân công bán ma túy. P là chủ mưu, là người bỏ tiền và đi mua ma tuý về chia thành các gói nhỏ và là người liên lạc với những người nghiện về việc mua bán ma tuý nên vai trò của P là cao nhất. Đông tham gia với vai trò giúp sức 02 lần bán ma tuý giúp P nên có vai trò thấp hơn P.
[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Các bị cáo P, Đ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo P có bố là thương binh, được tặng thưởng bằng khen, kỷ niệm chương nên P còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 649MT/PC09 chứa gồm 9,67 gam, ma tuý, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định; 20 vỏ túi nilon kích thước 1,5x2cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 06cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn; 01 hộp giấy kích thước 3x6x10cm màu hồng - trắng; 01 bộ đồ để sử dụng ma tuý đá tự chế và 01 cuộn băng dính giấy màu trắng, bản rộng 05cm là đồ vật nhà nước cấm lưu hành và sử dụng vào việc phạm tội nhưng không còn nhu cầu sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của Đặng Viết Đ và Nguyễn Huy L là tiền dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, gắn sim số: 0333.484.982, đã qua sử dụng của Đinh Viết C1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, gắn sim số: 0942.907.311, đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, gắn sim số 0793.201.185 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị P là phượng tiện, dụng cụ các bị cáo và người liên quan sử dụng để phạm tội và con giá trị sử dụng nên cần tich thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
[10] Đối với khoản tiền 1.500.000 đồng là tiền bị cáo Nguyễn Thị P thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý cho các con nghiện nên cần truy thu để sung công quỹ Nhà nước.
[11] Trong vụ án có đối tượng Đinh Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, lượng ma tuý không đủ cấu thành tội phạm, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự các tội về ma tuý. Đào Trọng Đ1, Hoàng Phú T1, Đỗ Văn T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xét.
[12] Đối với Nguyễn Huy L có mặt ở nơi bắt quả tang P và Đ với mục đích đi tìm P để mua ma tuý sử dụng riêng cho bản thân nhưng chưa kịp mua nên không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.
[13] Đối với đối tượng bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị P do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
[14] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị P, Đặng Viết Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, c, i khoản 2, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Nguyễn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Thị P 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 31 tháng 5 năm 2024.
- Căn cứ điểm b, c, i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Đặng Viết Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Đặng Viết Đ 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 31 tháng 5 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 649MT/PC09 chứa gồm 9,67 gam, ma tuý, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định; 20 vỏ túi nilon kích thước 1,5x2cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 06cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn; 01 hộp giấy kích thước 3x6x10cm màu hồng - trắng; 01 bộ đồ để sử dụng ma tuý đá tự chế và 01 cuộn băng dính giấy màu trắng, bản rộng 05cm.
Sung công quỹ nhà nước số tiền 700.000 đồng thu giữ của Đặng Viết Đ và Nguyễn Huy L.
Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, gắn sim số: 0333.484.982, đã qua sử dụng của Đinh Viết C1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, gắn sim số: 0942.907.311, đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, gắn sim số 0793.201.185 đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị P.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Phiếu nhập kho số NK2025/14 ngày 14 tháng 10 năm 2024; Biên lai thu tiền số 0008203 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).
- Truy thu của Nguyễn Thị P số tiền 1.500.000 (một triệu, năm trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, buộc bị cáo Nguyễn Thị P, Đặng Viết Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Dũng |
Bản án số 236/2024HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 236/2024HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử Nguyễn Thị Phượng 10 năm; Đặng Viết Đông 10 năm
