|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 236/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng; bà Trần Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 230/2024/TLST-HS ngày 09-10-2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST-HS ngày 14-10-2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Việt T; sinh năm: 1985; nơi đăng ký thường trú: B11P6 V, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định (N là phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định); nơi cư trú: Tổ A T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (N là phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Văn D (Đã chết); con bà: Phạm Thị S; gia đình có 02 anh em; vợ: Hoàng Thị Thu H (Đã ly hôn); hiện đang sinh sống như vợ chồng với chị Trần Thị T1; có 02 con; tiền án: Bản án số 05/2020/HS-PT ngày 13-11-2020, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm số 258/2020/HS-ST ngày 31-8-2020 xử phạt Nguyễn Việt T 02 năm 03 tháng tù quy định tại khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, chấp hành xong án phạt tù ngày 25-8-2022; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22-6-2007, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 7 năm 2024, chuyển tạm giam ngày 16 tháng 7 năm 2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Anh Trần Đình T2, anh Trần Duy Đ (Không triệu tập đến phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ Án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 07-7-2024, tổ công tác Công an phường L, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ D đường Đ, phường L, thành phố N phát hiện Nguyễn Việt T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-592.42 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong tay trái của T 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (6,5 x 4) cm, bên trong có 10 viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt mỗi viên đều có chữ WY (T khai là ma túy tổng hợp mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Việt T. Ngoài ra, còn tạm giữ của T 01 xe máy biển kiểm soát 18B1-592.42, đã cũ.
Bản kết luận giám định số 1274/KL-KTHS ngày 12-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gồm 10 viên nén đều hình tròn màu hồng, trên một mặt của mỗi viên đều có chữ WY trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước (6,5 x 4) cm, được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu: 0,994 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Việt T khai nhận: Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 07-7-2024, T điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-592.42 từ nhà đến khu vực ngõ D đường Đ, phường L, thành phố N gặp 01 nam thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) và mua 01 túi ma túy tổng hợp “Hồng phiến” với giá 1.000.000 đồng. T cầm túi ma túy điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 233/CT-VKS-TPNĐ ngày 08-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Việt T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Việt T xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định luận tội và tranh luận: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Việt T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Việt T có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 07-7-2024, tại khu vực đầu ngõ D đường Đ, phường L, thành phố N Nguyễn Việt T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,994 gam ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo còn có một nhân thân cũng về tội “Trộm cắp tài sản”.
[4] Về hình phạt: Bị cáo tái phạm nên Hội đồng xét xử cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố như Viện kiểm sát đề nghị để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Việt T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1274/KL-KTHS ngày 12-7-2024 là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-592.42 là tài sản của chị Trần Thị T1, sinh năm 1986, trú tại tổ A T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Chị T1 không biết T mượn xe máy đi mua ma túy sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị T1 là đúng quy định của pháp luật.
[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Việt T hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Việt T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu huỷ số ma túy trong phong bì niêm phong số 1274/KL-KTHS ngày 12-7-2024 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17-10-2024 giữa Công an thành phố N và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm:
- - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bị cáo Nguyễn Việt T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo:
- - Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Bị cáo Nguyễn Việt T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |
Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 236/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
