Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 236/2024/DS-ST

Ngày: 24-10-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam;

Ông Huỳnh Phi Hồ.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 498/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 1561/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Lương Thế M, sinh năm: 1956;
  • Địa chỉ: C, Chung cư A, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1976;
  • Bà Trần Thị N, sinh năm 1982;
  • Cùng địa chỉ: 1, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • Địa chỉ liên hệ: Số C, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Bà Vũ Thị Hồng L, sinh năm: 1961.
  • Địa chỉ: C, Chung cư A, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • (ông M, bà L có mặt tại phiên tòa, ông H, bà N vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lương Thế M trình bày:

Do là chỗ quen biết, ông cho ông H, bà N vay tiền nhiều lần, mức lãi suất thỏa thuận ban đầu là 2%/1 tháng. Hai bên không thỏa thuận về thời hạn vay, khi nào ông cần lấy tiền thì báo trước cho ông H, bà N 2 ngày ông bà sẽ trả. Vì cho vay nhiều lần và ông H bà N cũng trả nhiều lần lãi, hơn nữa vì tuổi đã cao ông không nhớ được chính xác số lần trả nợ và tổng số tiền đã trả là bao nhiêu. Ngày 18/6/2021, ông tiếp tục cho ông H, bà N vay 400.000.000 đồng, và chốt tổng số nợ đến ngày 18/6/2021 là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng, lúc này hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 2,5%/1 tháng. Bà N và ông H cũng đã viết giấy ghi nhận việc vay tiền của ông tổng đến ngày 18/6/2021 và mức lãi suất thỏa thuận cho vay là 2.5%/1 tháng.

Từ khi vay tiền của ông ngày 18/6/2021 đến nay, ông H, bà N đã trả cho ông được tổng cộng 1.180.000.000 (một tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng tiền lãi và chưa trả được khoản tiền gốc nào.

Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị N phải trả cho ông số nợ gốc vay là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng và tiền lãi tính từ khi vay (ngày 18/6/2021) cho đến khi tòa xét xử vụ án ( làm tròn là 03 năm 03 tháng) theo mức lãi suất 20%/năm (1.66%/1 tháng) trừ đi các khoản lãi đã trả là 1.180.000.000 (một tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng là (2.500.000.000 đồng x 03 năm 03 tháng x 20%/1 năm - 1.180.000.000 đồng = 444.500.000 đồng). Tổng số tiền bị đơn phải trả cho ông là 2.944.500.000 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị N trình bày tại các bản tự khai:

Vào năm 2015 vợ chồng bà có quen biết, do chơi chung với con gái của ông Lương Thế M nên từ tháng 01/2019 ông bà có vay của ông M từ 1 tỷ đồng sau đó tăng lên 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng với lãi suất thỏa thuận ban đầu là 2%/1 tháng, sau đó tăng lên 2,5%/1 tháng. Tuy nhiên số tiền vay cụ thể từng lần bà không nhớ rõ và cũng không có tài liệu chứng cứ gì về việc vay mượn nộp cho Tòa án. Hàng tháng ông bà đều chuyển khoản tiền lãi đầy đủ cho ông M. Chốt đến ngày 18/6/2021, ông bà có ghi giấy nhận nợ của ông M tổng số tiền vay là 2.500.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2.5%/1 tháng, thời gian vay linh hoạt. Bà xác định từ tháng 7/2021 bà đã trả cho ông M được 1.180.000.000 đồng tiền lãi. Nay ông M khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả số nợ gốc vay là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng và tiền lãi tính từ khi vay (ngày 18/6/2021) cho đến khi tòa xét xử vụ án theo mức lãi suất 20%/năm trừ đi các khoản lãi đã trả là 1.180.000.000 (một tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng thì bà có ý kiến như sau.

Trước đây vợ chồng bà có vay của ông M nhiều lần với mức lãi suất thỏa thuận 2%/1 tháng và 2,5% 1 tháng và đã trả đủ hàng tháng cho ông M bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của ông M. Tổng số tiền bà đã chuyển khoản để trả tiền lãi cho ông M là 2.565.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm sáu lăm triệu đồng). Bà nhận thấy đây là mức lãi suất cao hơn so với quy định của bộ luật dân sự 2015 (1,67%/1 tháng). Nên bà yêu cầu từ tháng 01/2019 đến tháng 7/2021 được trả lãi cho ông M với mức lãi suất 1,67%/1 tháng. Ngoài ra từ tháng 8/2021 đến nay, do chiến tranh, dịch C, khủng hoảng kinh tế công ty của bà không hoạt động, việc làm ăn bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên bà yêu cầu được trả lãi cho ông M với mức lãi suất của Ngân hàng là 0,7%/1 tháng.

Do đó bà yêu cầu được trừ số tiền lãi bà đã trả cho ông M vượt quá yêu cầu trên vào tiền gốc bà đã trả, cụ thể:

Tổng số nợ gốc vay là: 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng.

Tổng số lãi phải trả: 1.080.362.000 (một tỷ không trăm tám mươi triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn đồng). Trong đó từ tháng 01/2019 đến tháng 7/2021 lãi suất 1,67%/1 tháng, tháng 8/2021 đến nay là 0,7%/1 tháng.

Tổng số tiền đã chuyển khoản cho ông M là 2.565.000.000 đồng (hai tỷ năm trăm sáu lăm triệu đồng).

Như vậy số tiền bà còn phải trả ông M là: 1.014.862.000 (một tỷ không trăm mười bốn triệu tám trăm sau mươi hai ngàn) đồng.

Bị đơn ông Đỗ Văn H vắng mặt và không có lời khai tại Tòa án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng L trình bày:

Bà thống nhất lời khai của chồng bà là ông Lương Thế M. Yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị N phải trả cho vợ chồng bà tổng số nợ gốc vay là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng và tiền lãi tính từ khi vay (ngày 18/6/2021) cho đến khi tòa xét xử vụ án (03 năm 03 tháng) theo mức lãi suất 20%/năm (1.66%/ 1 tháng) trừ đi các khoản lãi đã trả là 1.180.000.000 (một tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng (2.500.000.000 đồng x 03 năm 03 tháng x 20%/1 năm - 1.180.000.000 đồng = 444.500.000 đồng). Tổng số tiền bị đơn phải trả cho ông bà là 2.944.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu:

  • * Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng quy định pháp luật; Trong vụ án này, các đương sự được xác định đúng tư cách pháp lý của đương sự, đảm bảo việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
  • * Về đường lối giải quyết vụ án:
  • Hồ sơ vụ án thể hiện ông H, bà N có vay nợ của ông Lương Thế M và bà Vũ Thị Hồng L nhiều lần. Đến ngày 18/6/2021, ông M cho ông H, bà N vay thêm 400.000.000 đồng và chốt tổng số nợ đến ngày 18/6/2021 là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng, lúc này hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 2,5%/1 tháng. Bà N và ông H cũng đã viết giấy ghi nhận việc vay tiền của ông tổng đến ngày 18/6/2021 và mức lãi suất thỏa thuận cho vay là 2.5%/1 tháng. Từ khi vay tiền của ông M ngày 18/6/2021 đến nay, ông H, bà N đã trả cho ông được tổng cộng 1.180.000.000 (một tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng tiền lãi và chưa trả được khoản tiền gốc nào. Ông yêu cầu Tòa án buộc ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị N phải trả cho ông số nợ gốc vay là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng và tiền lãi tính từ khi vay (ngày 18/6/2021) cho đến khi tòa xét xử vụ án (03 năm 03 tháng) theo mức lãi suất 20%/năm (1.66%/ 1 tháng) trừ đi các khoản lãi đã trả là 1.180.000.000 (một tỷ một trăm tám mươi triệu) đồng là (2.500.000.000 đồng x 03 năm 03 tháng x 20%/1 năm - 1.180.000.000 đồng = 444.500.000 đồng). Tổng số tiền bị đơn phải trả cho ông là 2.944.500.000 đồng. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Theo phiếu trả lời kết quả xác minh ngày 27/6/2024, thể hiện bị đơn ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N không đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương. Nhưng hiện ông bà đang sinh sống tại địa chỉ 150/7, khu phố G và nhà số C, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo điểm a, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[2] Về tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Ông M, bà L có mặt tại phiên tòa. Bị đơn ông Đỗ Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 2 điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà N.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo giấy vay tiền ngày 18/6/2021 và yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo mức lãi suất 1.66%/ 1 tháng từ khi vay đến khi xét xử vụ án. Do đó, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

[4] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của ông Lương Thế M yêu cầu ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N phải thanh toán cho ông tổng số tiền là 2.944.500.000 đồng (Trong đó số tiền gốc đã vay 2.500.000.000 đồng và tiền lãi 444.500.000 đồng) thì thấy:

[4.1] Đối với nội dung yêu cầu trả tiền gốc:

Cả nguyên đơn, bị đơn bà Trần Thị N đều thừa nhận, ông Lương Thế M đã cho ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N vay tiền nhiều lần, trong quá trình vay, bị đơn cũng đã trả tiền cho nguyên đơn nhiều lần. Đến ngày 18/6/2021, ông M tiếp tục cho bị đơn vay 400.000.000 đồng, và chốt tổng số nợ đến ngày 18/6/2021 là 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 2,5%/1 tháng. Do tuổi đã cao, và thời gian đã lâu, ông M không còn nhớ cụ thể trước ngày 18/6/2021 đã cho bị đơn vay bao nhiên lần, với số tiền bao nhiêu, ông cũng không nhớ rõ số tiền mà bị đơn đã trả cho ông là bao nhiêu. Bị đơn ông H, bà N không xác định được chính xác số lần vay tiền và trả tiền cho nguyên đơn, đồng thời cũng không có tài liệu chứng cứ gì để xác định các khoản vay trước ngày 18/6/2021.

Như vậy có đủ cơ sở xác định, vào ngày 18/6/2021, ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N có vay tiền của ông Lương Thế M, 2.500.000.000 (Hai tỷ năm trăm triệu) đồng. Ông H, bà N có lập giấy vay tiền ngày 18/6/2021, trong giấy vay tiền ông H, bà N xác định lãi suất cho vay là 2,5%/1 tháng, thời gian vay linh hoạt, khi nào ông M cần thì báo trước cho ông H, bà N 02 ngày.

Do ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M, vì vậy ông M yêu cầu ông H, bà N có nghĩa vụ trả lại cho ông số tiền gốc đã vay là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng là có cơ sở chấp nhận.

[4.2] Đối với yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn:

Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 18/6/2021, hai bên thỏa thuận mức lãi suất cho vay là 2.5%/1 tháng (tương đương 30%/1 năm), mức lãi suất hai bên thỏa thuận đã vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.” Ông M yêu cầu ông H, bà N trả nợ lãi là 20%/1 năm trên tổng số tiền gốc vay là có cơ sở chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lương Thế M khai, từ ngày lập giấy vay tiền 18/6/2021, ông H, bà N đã trả được cho ông M tổng cộng số tiền lãi là 1.180.000.000 đồng. Theo các tài liệu là các phiếu ủy nhiệm chi, bị đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện việc bà N chuyển koản cho ông M, từ tháng 7/2021 đến ngày 30/12/2023 được tổng cộng 1.160.000.000 đồng tiền lãi, như vậy trình bày của ông M có lợi hơn cho bị đơn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận trình bày của ông M.

Ông M yêu cầu ông H, bà N trả nợ lãi là 20%/1 năm trên tổng số tiền gốc vay nên cần khấu trừ số tiền đã trả vào số tiền lãi bị đơn phải trả cho ông M. Số tiền lãi ông H bà N còn phải trả cho nguyên đơn là 2.500.000.000 đồng x 03 năm 03 tháng x 20%/1 năm - 1.180.000.000 đồng = 444.500.000 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.

Tổng số tiền ông H, bà N phải trả cho ông M là 2.944.500.000 đồng.

[4.3] Đối với yêu cầu khấu trừ số tiền lãi đã trả vào số tiền bị đơn phải trả nguyên đơn của bà N:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông M và bà N đều xác định việc vay mượn giữa hai bên đầu có từ trước, tuy nhiên vì thời gian đã lâu ông M không nhớ được số lần vay, số tiền vay và số tiền bị đơn đã trả cho ông. Bị đơn cũng không có chứng cứ gì đối với các lần vay mượn trước đây và cũng không xác định được số lần, số tiền đã vay của ông M. Hai bên chỉ thống nhất xác định việc chốt nợ đến ngày 18/6/2021 là 2.500.000.000 đồng nên việc bà N yêu cầu khấu trừ số tiền đã trả từ trước ngày 18/6/2021 vào số tiền nợ chốt của ngày 18/6/2021 là không có cơ sở chấp nhận.

Ngoài ra bà N yêu cầu từ tháng 8/2021 đến nay, do chiến tranh, dịch C, khủng hoảng kinh tế công ty của bà không hoạt động, việc làm ăn bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên bà yêu cầu được trả lãi cho ông M với mức lãi suất của Ngân hàng là 0,7%/1 tháng là không có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, lãi suất cho vay đã được hai bên thỏa thuận và ghi nhận tại giấy vay tiền ngày 18/6/2021 là 2,5%/1 tháng. Chiến tranh, dịch C, khủng hoảng kinh tế công ty của bà không hoạt động, việc làm ăn bị ảnh hưởng không phải là sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 2 Điều 351 Bộ luật dân sự nên yêu cầu này của bà N là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N phải chịu 90.890.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Quan điểm đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 203, 205, 207, 227, 228, Điều 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Thế M về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N.

    Buộc ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N phải thanh toán cho ông Lương Thế M số tiền tính đến ngày 24/10/2024 là 2.944.500.000 đồng (hai tỷ chín trăm bốn mươi bốn triệu năm trăm ngàn) đồng. Trong đó, nợ gốc là 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng, nợ lãi là 444.500.000 (bốn trăm bốn bốn triệu năm trăm ngàn) đồng.

  2. Án phí Dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đỗ Văn H và bà Trần Thị N phải chịu 90.890.000 (chín mươi triệu tám trăm chín mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn ông Lương Thế M, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Hồng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn ông Đỗ Văn H, bà Trần Thị N vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ; văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Nhàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tam

Huỳnh Phi Hổ

Nguyễn Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/DS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 236/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Lương Thế M khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo giấy vay tiền ngày 18/6/2021 và yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo mức lãi suất 1.66%/ 1 tháng từ khi vay đến khi xét xử vụ án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger