Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/DS-PT.

Ngày 25 - 9 - 2024.

V/v “tranh chấp đòi lại quyền sử

dụng đất và lối đi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường.
  • - Các Thẩm phán:
  • Ông Cao Văn Lạc.
  • Bà Phạm Thị Hồng Hà.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Liễu – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2024/TLPT- DS, ngày 05 tháng 8 năm 2024, về việc “tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và lối đi".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 259/2024/ QĐ-PT ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Cúc H, sinh năm 1953 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Số B, khu phố Đ, phường D, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H là ông Huỳnh Phước T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
  • - Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
    2. Nguyễn Thị B, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
    3. Nguyễn Thị T1 (tên gọi khác là Nguyễn Thị T2), sinh năm 1971. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 là: Ông Mai Hoàng T3, sinh năm 1997 và bà Thái Nguyễn Tường V, sinh năm 1998. Cùng địa chỉ: Quốc Lộ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
    2. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
    3. Nguyễn Thị T5, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số B, ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
    4. Anh Nguyễn Tấn V1, sinh 1977 (con ông H1, vắng mặt).
    5. Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H và bị đơn bà Nguyễn Thị T1 (tên gọi khác là Nguyễn Thị T2).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H do ông Huỳnh Phước T làm đại diện trình bày:

Cha của bà Nguyễn Cúc H là cụ Nguyễn Văn C1 (chết năm 2011) và mẹ là cụ Nguyễn Thị S (chết năm 1986), cha và mẹ của bà H sinh được 07 người con là: (1) bà Nguyễn Cúc H, (2) ông Nguyễn Tấn H1, (3) bà Nguyễn Thị B, (4) bà Nguyễn Thị T1, (5) ông Nguyễn Ngọc T4, (6) ông Nguyễn Thành C, (7) bà Nguyễn Thị T5.

Khi còn sống cụ C1 có lập tờ di chúc ngày 17/5/2004 để lại cho các con di sản diện tích đất 4.787m² thuộc các thửa 1377, 1378, 853, TBĐ số 9, tọa lạc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, chia cho mỗi người được hưởng phần di sản như sau:

  • Ông Nguyễn Tấn H1 được chia 1.000m² đất 02 lúa thửa 853.
  • Ông Nguyễn Thành C được chia 1.000m² đất 02 lúa thửa 853.
  • Phần còn lại 2.787m² đất vườn, thổ + lúa chia cho 04 người con gái:
    • Nguyễn Cúc H, được chia 560m² đất 02 lúa thửa 853.
    • Nguyễn Thị B, được chia 560m² đất 02 lúa và phần đất vườn ngang 4,5m, dài 20m, diện tích 90m² thửa 1378.
    • Nguyễn Thị T5, được chia 560m² đất 02 lúa thửa 853.

Nguyễn Thị T1, được chia 570m² đất 02 lúa, phần còn lại thửa 853 và căn nhà diện tích 70m². Thửa 1377 và diện tích 357m², thửa 1378 và toàn bộ tài sản trong nhà.

Sau khi cụ C1 chết thì ông H2, bà T1, bà B đã tự ý đo đạc cắm mốc để phân chia diện tích đất nêu trên không có mặt của bà H, do ở xa nên bà H không trực tiếp canh tác phần đất được chia thừa kế, sau đó bà H có nhận chuyển nhượng lại phần thừa kế 560m² của bà T5 và 560m² của bà B. Phần đất được hưởng thừa kế bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/10/2017, đến khoảng tháng 10/2020 bà H phát hiện chia không đúng diện tích của bà được hưởng thừa kế nên bà H yêu cầu chia thừa kế theo Tờ di chúc ngày 17/5/2004, bà yêu cầu được hưởng 560m² thuộc thửa mới là 477+478+479 để mở lối đi chiều ngang 2m, chiều dài hết thửa đất số 480, TBĐ số 18, thửa 32, tờ bản đồ 20 tọa lạc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Ông Nguyễn Tấn H1 trình bày: Thống nhất với kết quả đo đạc, nhưng không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường cho ông H1 giá trị 04 cây dừa là 8.000.000đ. Nếu diện tích đo đạc thiếu so với di chúc thì ông H1 đồng ý trả lại cho nguyên đơn toàn bộ diện tích thiếu. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Bà Nguyễn Thị B trình bày: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Thống nhất theo trình bày của ông H1, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu diện tích đo đạc thiếu so với di chúc thì bà đồng ý trả lại cho nguyên đơn toàn bộ diện tích thiếu. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

- Ông Nguyễn Thành C trình bày: Không đồng ý theo yêu cầu của ông H1, ông chặt cây dừa của ông H1 là do bà H kêu tôi chặt. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tấn V1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản trả lời ý kiến theo thông báo về việc thụ lý vụ án, cũng như không tham dự phiên hòa giải.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2023 và biên bản định giá tài sản ngày 21/12/2023 thể hiện:

  • Thửa 480, TBĐ số 19, đất lúa: vị trí còn lại, giá 60.000đ/m².
  • Thửa 32, TBĐ số 20, đất CLN: vị trí còn lại, giá 71.000đ/m².
  • Cây dừa: 4 cây x 900.000đ/cây = 3.600.000đ.

Tại đơn yêu cầu ngày 21/10/2023 ông H1 và bà T1 đề nghị khảo sát đo đạc lại hết các thửa đất tranh chấp nhưng không nộp tạm ứng chi phí tố tụng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/4/2024 ông Nguyễn Tấn H1 trình bày: Diện tích các thửa đất tranh chấp đương sự được cấp so với di chúc ngày 17/5/2004 tăng 164,1m².

Tại bản án sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 264 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 95, 166, 168, 170 và 188 Luật đất đai năm 2003,

Áp dụng các Điều 168, 175, 176 khoản 1 Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 12, 14, khoản 2 Điều 26, điểm a, b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  • - Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H đối với yêu cầu chia thừa kế theo Tờ di chúc ngày 17/5/2004, bà yêu cầu được hưởng 560m² thuộc thửa mới là 477+478+479; Yêu cầu mở lối đi chiều ngang 2m, chiều dài hết thửa đất số 32, tờ bản đồ 20, tọa lạc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H
  • Buộc bà Nguyễn Thị T1 (còn gọi là Nguyễn Thị T2) phải có nghĩa vụ mở lối đi cho bà Nguyễn Cúc H có diện tích chiều rộng 02m chiều dài hết thửa đất số 480, tờ bản đồ số 18, diện tích 759,3m², loại đất LUC, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (theo trích đo bản đồ địa chính khu đất).
  • Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B mở lối đi cho bà Nguyễn Cúc H có diện tích chiều rộng 02m chiều dài hết thửa đất số 32, tờ bản đồ 9, loại đất CLN, tọa lạc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
  • Buộc bà Nguyễn Cúc H phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Tấn H1 số tiền 3.600.000đ.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí khảo sát, đo đạc, định giá, án phí sơ thẩm, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/4/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết: Buộc bà T1 phải trả lại cho bà H đủ diện tích

560m² tại thửa 477, 478 và 479. Không chấp nhận yêu cầu của ông Hữu B1H trả số tiền 3.600.000đ tiền bồi thường cây trồng cho ông H1.

Buộc ông H1 phải có trách nhiệm bồi thường tiền thành quả cho bà H do đã canh tác đất của bà H 11 năm, mỗi năm bà H yêu cầu ông H1 trả 3 giạ lúa, tổng cộng là 33 giạ, mỗi giạ là 100.000đ, tổng cộng thành tiền là 3.300.000đ.

Ngày 26/4/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H về việc mở lối đi.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông T đại diện cho bà H vẫn bảo lưu yêu cầu kháng cáo của bà H.

Ông T3 và bà V đại diện cho bà T1 vẫn bảo lưu yêu cầu kháng cáo của bà T1.

Ông H1 không đồng ý với kháng cáo của bà H.

Ông C là người quản lý thửa đất số 32 do bà B đứng tên, ông đồng ý mở lối đi cho bà H ngang 02m, dài hết thửa 32 của bà B diện tích theo đo đạc 31,6m².

- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của những người tham gia tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm; Các đương sự có mặt thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 và 29 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long theo hướng: Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 24/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V tại phần tuyên án.

Án phí dân sự phúc thẩm:

Do sửa án sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí DSPT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H và của bị đơn Nguyễn Thị T1 đúng về hình thức, nội dung và còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm ông Huỳnh Phước T đại diện cho nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H rút lại khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo tờ di chúc ngày 17/5/2004. Đối với việc bà H yêu cầu bà T1 chia cho bà được hưởng 560m² thuộc thửa mới là 477+478+479. Tòa án sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà H là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng sự. Nhưng sau khi xét xử sơ thẩm bà H lại kháng cáo yêu cầu bà T1 trả đủ diện tích 560m² tại thửa 477, 478 và 479 là không có căn cứ chấp nhận.

[2] Trên lối đi tại thửa 480 có 04 cây dừa do ông H1 trồng phía nguyên đơn bà H đã đốn. Giá trị mỗi cây dừa là 900.000đ, án sơ thẩm xử buộc bà H bồi thường cho ông H1 04 cây dừa thành tiền cộng chung là 3.600.000đ là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Nên không chấp nhận kháng cáo của bà H về việc bà không đồng ý bồi thường cho ông H1 giá trị 04 cây dừa là 3.600.000đ. Tuy nhiên, án sơ thẩm tuyên buộc thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhưng không tuyên lãi suất chậm thi hành án là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.

[3] Bà H không có khởi kiện và Tòa án cấp sơ thẩm không có thụ lý để xem xét giải quyết việc bà H yêu cầu buộc ông H1 phải có trách nhiệm bồi thường tiền thành quả cho bà H do đã lấy đất bà H canh tác đến nay đã 11 năm, mỗi năm bà H yêu cầu ông H1 trả 3 giạ lúa, tổng cộng là 33 giạ, mỗi giạ là 100.000đ, tổng cộng thành tiền là 3.300.000đ. Xét thấy, yêu cầu này của bà H vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244, Điều 270 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Xét thấy, tại biên bản đo đạc hiện trạng ngày 01/8/2023 và kết quả đo đạc hiện trạng ngày 24/5/2024 thể hiện: Thửa 479, tờ bản đồ số 18, diện tích 510,9m², tọa lạc ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long do bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng nằm phía trong, bị vây bọc bởi các bất động sản khác tại các thửa đất số 480 do bà T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa 32 do Bé đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông C là người đang trực tiếp sử dụng không có lối đi ra đường công cộng. Từ thửa đất 479 bà H ra đường công cộng phải đi trên thửa 480 của bà T1 và thửa 32 của bà B.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015 “1...Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi...”. Bà B là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông C là người trực tiếp sử dụng thửa 32 đồng ý mở lối đi cho bà H ngang 02m dài hết thửa 32 diện tích theo đo đạc là 31,6m². Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà B đồng ý mở lối đi cho bà H ngang 02 m dài hết thửa 32 là có căn cứ. Nhưng không xác định diện tích, vị trí, giáp giới, kích thước, hình thể của lối đi gây khó khăn có công tác thi hành án nên sửa án sơ thẩm đối với phần này.

Đối với thửa 480 của bà T1 tiếp giáp với thửa 479 của bà H. Từ thửa đất 479 của bà H muốn ra đường công cộng phải đi qua thửa 480 của bà Tiết diện T6 theo đo đạc 49,9m² và thửa 32 của bà B diện tích theo đo đạc 31,6m². Ngoài ra không còn lối đi nào khác để ra đường công cộng. Nên xét việc bà T1 kháng cáo không đồng ý mở lối đi cho bà H tại thửa 480 là không có căn cứ chấp nhận. Án sơ thẩm buộc bà T1 mở lối đi cho bà H chiều ngang 02m dài hết thửa 480. Nhưng không xác định diện tích, vị trí, giáp giới, kích thước, hình thể của lối đi gây khó khăn có công tác thi hành án nên sửa án sơ thẩm đối với phần này.

Xét thấy, việc bà H được mở lối đi trên thửa 480 của bà T1 và thửa 32 của bà B để đi vào thửa 479 của bà H. Do nguồn gốc các thửa đất này trước đây là của cụ C1. Sau khi cụ C1 chết chia cho các con là bà H, bà T1 và bà B thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều 254 không phải đền bù giá trị quyền sử dụng đất.

[5] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

[6] Từ các nhận định trên: Hội đồng xét xử, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Theo nhận định trên.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm và về chi phí thẩm định và định giá không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 44/DS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng: Các Điều 168, 175, 254 và 589 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 95, 166, 168, 170 và 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 và Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử việc ông Huỳnh Phước T đại diện cho nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H rút khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo tờ di chúc ngày 17/5/2004. Đối với việc bà H yêu cầu bà T1 chia cho bà H được hưởng 560m² thuộc thửa mới là 477+478+479.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Cúc H:

    Buộc bà Nguyễn Thị T1 (tên gọi khác là Nguyễn Thị T2 ) phải có nghĩa vụ mở lối đi cho bà Nguyễn Cúc H diện tích 49,9m², mục đích sử dụng LUC, tại tách thửa 480-1+480-2, tờ bản đồ số 18. Tọa lạc tại: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Có sơ đồ, vị trí, giáp giới, kích thước hình thể theo kết quả đo đạc hiện trạng phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án do Văn phòng đăng ký Đất đai tỉnh V đo vẽ đề ngày 24/5/2024 kèm theo bản án.

  3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Thành C có nghĩa vụ mở lối đi cho bà Nguyễn Cúc H diện tích 31,6m², mục đích sử dụng CLN, tại tách thửa 32-1+32-2, tờ bản đồ số 20. Tọa lạc tại: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Có sơ đồ, vị trí, giáp giới, kích thước hình thể theo kết quả đo đạc hiện trạng phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án do Văn phòng đăng ký Đất đai tỉnh V đo vẽ đề ngày 24/5/2024 kèm theo bản án.
  4. Nguyễn Cúc H, bà Nguyễn Thị T1 (tên gọi khác là Nguyễn Thị T2), bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Thành C có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đăng ký thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất theo quy định Luật đất đai năm 2013.
  5. Buộc bà Nguyễn Cúc H có nghĩa vụ bồi thường (trả) cho ông Nguyễn Tấn H1 giá trị 04 cây dừa đã đốn cộng chung là 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Đương sự có kháng cáo không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001090 ngày 04/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ.
  8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm và về chi phí thẩm định và định giá không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC tại TP HCM: 01b;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 01b;
  • - CA.TAND TVL: 01b;
  • - Phòng KTNV&THA TAND TVL: 01b;
  • - TAND huyện Long Hồ: 01b;
  • - Chi cục THADS huyện Long Hồ: 01b;
  • - Mỗi đương sự: 01b;
  • - Lưu HS: 06b.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và lối đi

  • Số bản án: 236/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Cúc H với bị đơn Nguyễn Tấn H, Nguyễn Thị B, Nguyễn Thị T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger