Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/HS-ST

Ngày: 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Lục Kim Thanh;
  • 2/ Ông Lê Thành Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 212/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979, tại tỉnh Bình Định; HKTT: Thôn C, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Quản lý Karaoke; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954 và bà Đỗ Thị B, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Đặng Lâm Thị L, sinh năm 1967 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 25/7/2023, bị cáo bị bắt truy nã và bị tạm giữ tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Huỳnh Văn A, sinh năm 1965; HKTT: Khu phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở: Chung cư P, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T5; địa chỉ: Đường D, khu công nghiệp M, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Trọng H, sinh năm 1967; HKTT: Số A đường L, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Lý Minh T2, sinh năm 1976. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 3/2008, bị cáo Nguyễn Ngọc T đến thử việc làm nhân viên của Công ty Cổ phần T5, địa chỉ: Đường D, khu công nghiệp M, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Công việc của bị cáo T là làm phụ xe đi chở hàng cho công ty. Hàng ngày, bị cáo T làm việc và ở tại Công ty cùng phòng với ông Huỳnh Văn A là đội trưởng đội xe.

Sáng ngày 02/4/2008, bị cáo T đi phụ xe cho ông Lý Minh T2 là tài xế của công ty, chở hàng của công ty đi giao và thu tiền hàng số tiền 200.970.000 đồng của khách hàng mang về. Đến chiều cùng ngày, ông T2 đem số tiền 200.970.000 đồng thu được giao cho ông Huỳnh Văn A để hôm sau giao cho thủ quỹ của công ty. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, ông Huỳnh Văn A nhận tiền và cất giữ trong tủ cá nhân trong phòng, chìa khóa tủ cất tiền ông Huỳnh Văn A để trên giường ngủ, rồi đi ngủ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo T mở cửa tủ tìm cây viết để viết giấy tờ (bị cáo T khai chìa khóa cắm trong ổ khóa) thì thấy số tiền ông Huỳnh Văn A cất trong tủ nên nảy sinh ý định lấy trộm tiền để tiêu xài. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 03/4/2008, bị cáo T lén lút lấy chìa khóa, mở tủ lấy toàn bộ số tiền 200.970.000 đồng rồi đi ra lấy xe mô tô hiệu Wave màu xanh, biển số 51F1-4476 (xe của công ty giao cho tất cả nhân viên sử dụng để đi lại) để dưới sân của công ty và điều khiển xe đi đến cây xăng T6 thuộc khu phố D, thị trấn (nay là phường) Mỹ P, huyện (nay là thành phố) B. Tại đây, bị cáo T gửi xe lại rồi bỏ trốn.

Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 03/4/2008, ông Huỳnh Văn Anh T3 dậy thì phát hiện số tiền 200.970.000 đồng đã bị mất nên báo cho ông Huỳnh Trọng H là tổng giám đốc công ty biết, rồi đến C1 (nay là phường ) trình báo vụ việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện (nay là thành phố) Bến Cát để thụ lý theo thẩm quyền.

Khoảng 01 tháng sau ngày lấy trộm tiền, bị cáo T gọi điện thoại cho ông Lý Minh T2 hỏi số tài khoản của công ty để chuyển tiền trả lại, nhưng ông T2 không biết số tài khoản công ty nên hẹn đến hôm sau sẽ nói lại cho bị cáo T. Bị cáo T nói ông Lý Minh T2 ra cây xăng T6 lấy xe mô tô hiệu Wave, biển số 51F7-4476 mà bị cáo T đã gửi tại cây xăng, để đem về trả lại cho công ty. Sáng hôm sau, ông T2 gọi điện thoại cho bị cáo T nhưng không liên lạc được nên báo ông Huỳnh Văn A đến cây xăng Tường P1 lấy xe mô tô đem về trả lại Công ty cổ phần T5.

Ngày 25/7/2023, Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương bắt truy nã bị cáo T theo Quyết định truy nã số 21 ngày 26/8/2008 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương khi bị cáo T đang ở tại khu vực phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) Bến C, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo T khai số tiền 200.970.000 đồng bị cáo T lấy trộm được, bị cáo T tiêu xài cá nhân hết.

Về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự: Bị hại ông Huỳnh Văn A yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 200.970.000 đồng mà bị cáo T đã chiếm đoạt. Bị cáo T đồng ý bồi thường cho bị hại nhưng chưa có tiền.

Tại Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 08/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị cáo chiếm đoạt 200.970.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại ông Huỳnh Văn A số tiền 200.970.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 08/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường cho bị hại Anh số tiền 200.970.000 đồng. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Theo đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại (Huỳnh Văn A) trình bày: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 200.970.000 đồng để ông A giao trả lại cho công ty. Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Về hình phạt, đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để xét xử vắng mặt ông.

Theo đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện của Công ty Cổ phần T5 (ông Huỳnh Trọng H) trình bày: Công ty Cổ phần T5 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, do bị cáo trộm cắp số tiền của bị hại Huỳnh Văn A nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn A để bị hại có tiền trả lại cho công ty. Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Theo đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng (ông Lý Minh T2) trình bày: Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào lời khai của ông để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ sáng ngày 03/4/2008, tại Công ty Cổ phần T5, địa chỉ: Đường D, khu công nghiệp M, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 200.970.000 đồng của bị hại ông Huỳnh Văn A rồi bỏ trốn. Tiền có được, bị cáo T tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, Cáo trạng số 217/CT-VKSBC ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo T thực hiện là rất nghiêm trọng do có mức cao nhất khung hình phạt đến 15 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, về nhận thức bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Chỉ do động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân nhưng lười lao động, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Để góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự, giữ gìn nếp sống văn minh của địa phương, Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[6] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

[7] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[8] Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt không thu hồi được. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.970.000 đồng. Xét thấy, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 200.970.000 đồng và việc tự nguyện bồi thường của bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Án phí hình sự và dân sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Thường phạm T4 “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường cho bị hại ông Huỳnh Văn A số tiền 200.970.000 (hai trăm triệu, chín trăm bảy mươi ngàn) đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thìngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoảthuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡngchế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sựnăm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thựchiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  3. Án phí:
    • + Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
    • + Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 10.048.500 (mười triệu, không trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm) đồng.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • + Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/9/2024).
    • + Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - CCTHA thành phố Bến Cát;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VVăn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 236/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger