Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/DS-ST

Ngày: 15/5/2024.

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân.
  2. Ông Thái Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 289/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn M, địa chỉ: Tầng B, số H C, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thân Chí N, địa chỉ: Tầng I, 2 đường P, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 15/3/2024) (vắng mặt).

  2. Bị đơn: Bà Trần Ngọc D, sinh năm: 1970; địa chỉ: Số F, Đường số F, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 10/02/2023 của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn M (gọi tắt là VID) và theo bản tự khai của ông Thân Chí N, là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, trình bày:

Ngày 27/3/2013, bà Trần Ngọc D và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T (nay đổi tên thành Công ty T1, gọi tắt là SVFC) có ký kết Hợp đồng tín dụng cá nhân số 10476631 (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng).

Thông tin chi tiết của khoản vay như sau: Số tiền cho vay 25.000.000 đồng; mục đích vay: Vay tiêu dùng; ngày rút vốn 27/3/2013; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất: Lãi suất vay hàng tháng là 2,92%; lãi phạt bằng 150% của lãi suất; nợ gốc và nợ lãi được trả thành 36 kỳ; phương thức vay: Tín chấp, không có tài sản bảo đảm.

Ngày 09/9/2022, SVFC ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 395-0922/COLLECTION-SVFC với VID. Theo thỏa thuận, SVFC đã chuyển nhượng cho VID nhiều hợp đồng tín dụng cùng khoản nợ tương ứng, trong đó bao gồm Hợp đồng tín dụng số 10476631 của bị đơn. Sau khi hợp đồng mua bán nợ được ký kết, VID có toàn quyền thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật.

Sau khi nhận giải ngân tiền vay cho đến ngày SVFC ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 395-0922/COLLECTION-SVFC với VID, bà D đã thanh toán cho SVFC tổng số tiền là 30.158.150 đồng, trong đó: Số tiền gốc đã thanh toán là 16.162.400 đồng, số tiền lãi trong hạn đã thanh toán là 13.839.900 đồng, số tiền đã thanh toán dư của các kỳ là 155.850 đồng. Tại thời điểm viết bản tự khai, V đồng ý giảm cho bị đơn tiền lãi quá hạn là 1.420.428 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Tòa tuyên buộc bà Trần Ngọc D phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền là 45.150.580 (bốn mươi lăm triệu, một trăm năm mươi nghìn, năm trăm tám mươi) đồng trong đó: Nợ gốc là 8.837.600 đồng; nợ lãi trong hạn là 1.338.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 33.261.541 đồng; lãi phạt trong hạn trên nợ gốc là 709.589 đồng; nợ lãi chậm trả là 1.003.650 đồng.

* Bị đơn bà Trần Ngọc D đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà D vắng mặt. Ông Thân Chí N, là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, nộp đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, căn cứ khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được nên phải đưa vụ án ra xét xử.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Người diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thân Chí N vắng mặt nên không có ý kiến gì bổ sung.
  • - Bị đơn bà Trần Ngọc D vắng mặt nên không có ý kiến.
  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:
    • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định, về thời hạn chuẩn bị xét xử vi phạm điểm b khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, kiến nghị Tòa án khắc phục.
    • + Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1] Theo nội dung đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà D cư trú và làm việc tại huyện C do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

[2] Người diện hợp pháp của nguyên đơn ông Thân Chí N có đơn xin vắng mặt, bị đơn bà Trần Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N và bà D.

* Về nội dung:

[3] Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Ngày 27/3/2013, bà Trần Thị Ngọc D và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T (nay đổi tên thành Công ty T1, gọi tắt là SVFC) có ký kết Hợp đồng tín dụng cá nhân số 10476631, nội dung: SVFC cho bà D vay số tiền 25.000.000 đồng; mục đích vay: Vay tiêu dùng; ngày rút vốn 27/3/2013; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất (tính trên dư nợ giảm dần) là 2,92%/tháng; lãi phạt bằng 150% của lãi suất vay; phương thức vay: Tín chấp, không có tài sản bảo đảm; phương thức trả nợ gốc và lãi: Một tháng trả một lần vào ngày 05 hàng tháng.

Thực hiện hợp đồng, bà D đã thanh toán cho SVFC tổng số tiền là 30.158.150 đồng, trong đó: Số tiền gốc đã thanh toán là 16.162.400 đồng, số tiền lãi trong hạn đã thanh toán là 13.839.900 đồng, số tiền đã thanh toán dư của các kỳ là 155.850 đồng.

Ngày 09/9/2022, SVFC ký kết Hợp đồng mua bán nợ số 395-0922/COLLECTION-SVFC với VID. Theo thỏa thuận, SVFC đã chuyển nhượng cho VID nhiều hợp đồng tín dụng cùng khoản nợ tương ứng, trong đó bao gồm Hợp đồng tín dụng số 10476631 của bà Trần Ngọc D. Sau khi hợp đồng mua bán nợ được ký kết, VID có toàn quyền thu hồi khoản nợ theo quy định của pháp luật. Do VID đã thông báo, yêu cầu bà D trả nợ đầy đủ và đúng hạn nhưng bà D không thực hiện nên phát sinh tranh chấp.

Tại Tòa, VID đồng ý giảm cho bà D tiền lãi quá hạn là 1.420.428 đồng. VID yêu cầu Tòa tuyên buộc bà D phải thanh toán một lần toàn bộ số tiền là 45.150.580 (bốn mươi lăm triệu, một trăm năm mươi nghìn, năm trăm tám mươi) đồng trong đó: Nợ gốc là 8.837.600 đồng; nợ lãi trong hạn là 1.338.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 33.261.541 đồng; lãi phạt trong hạn trên nợ gốc là 709.589 đồng; nợ lãi chậm trả là 1.003.650 đồng.

[4] Xét nguyên đơn VID yêu cầu buộc bà D thanh toán một lần số tiền 45.150.580 (bốn mươi lăm triệu, một trăm năm mươi nghìn, năm trăm tám mươi) đồng trong đó: Nợ gốc là 8.837.600 đồng; nợ lãi trong hạn là 1.338.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 33.261.541 đồng; lãi phạt trong hạn trên nợ gốc là 709.589 đồng; nợ lãi chậm trả là 1.003.650 đồng là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Yêu cầu của nguyên đơn phù hợp khoản 4 Điều 13, Điều 18, Điều 20 và Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 và khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[5] Bị đơn bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử buộc bà Trần Ngọc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát như trên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 4 Điều 13, Điều 18, Điều 20 và Điều 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn M:

1. Buộc bà Trần Ngọc D có trách nhiệm thanh toán một lần cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn M số tiền 45.150.580 (bốn mươi lăm triệu, một trăm năm mươi nghìn, năm trăm tám mươi) đồng trong đó: Nợ gốc là 8.837.600 (tám triệu, tám trăm ba mươi bảy nghìn, sáu trăm) đồng; nợ lãi trong hạn là 1.338.200 (một triệu, ba trăm ba mươi tám nghìn, hai trăm) đồng; nợ lãi quá hạn là 33.261.541(ba mươi ba triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn, năm trăm bốn mươi mốt) đồng; lãi phạt trong hạn trên nợ gốc là 709.589 (bảy trăm lẻ chín nghìn, năm trăm tám mươi chín) đồng; nợ lãi chậm trả là 1.003.650 (một triệu, không trăm lẻ ba nghìn, sáu trăm năm mươi) đồng.

2. Án phí: Buộc bà Trần Ngọc D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 2.257.529 (hai triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi chín) đồng.

Hoàn trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.128.765 (một triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, bảy trăm sáu mươi lăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0017518 ngày 29/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp . Hồ Chí Minh (01b);
  • - VKSND H.Củ Chi (02b);
  • - Chi cục THA Dân sự H.Củ Chi (01b);
  • - Các đương sự (02b);
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (02b).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 236/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger