Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Xuân Lang

Bà Tạ Thị Kim Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 227/2024/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2059/2024/QĐXXST-HS ngày 20/4/2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn L; sinh năm 1988, tại: tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: D Quốc lộ E, ấp D, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1955 và bà: Trần Thị T, sinh năm 1958; vợ: Trương Thị P, sinh năm 1989; con: có 01 người, sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  2. Huỳnh Văn C; sinh năm 1998, tại: tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: 3 ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Minh T1, sinh năm 1980 và bà: Cao Thị Thu T2, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  3. Huỳnh Công L1; sinh năm 1988, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú và cư trú: 118/66/25 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn D, sinh năm 1962 và bà: Đặng Mỹ P1, sinh năm 1966; vợ: Vũ Thị Hoàng O, sinh năm 1990; con: có 01 người, sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: bản án số 30/2017/HSST ngày 28/02/2017 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã xóa án tích.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  4. Huỳnh Công M; sinh năm 1979, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: tổ G, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Công S, sinh năm 1942 và bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1946; vợ: Bùi Thị Kiều D1, sinh năm 1986; con: có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  5. Huỳnh Công K; sinh năm 1987, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: 118/66/25 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Văn D, sinh năm 1962 và bà Đặng Mỹ P1, sinh năm 1966; vợ: Đinh Thị D2, sinh năm 1992; con: có 01 người, sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  6. Huỳnh Hữu T3; sinh năm 1990, tại: tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: A Đường số A, cư xá P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Hữu N, sinh năm 1964 và bà: Huỳnh Thị X, sinh năm 1963; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  7. Nguyễn Văn N1; sinh năm 1986, tại: tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: 9 Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1955 và bà Trần Thị T, sinh năm 1958; vợ: Cao Thị Thanh T4, sinh năm 1989; con: có 02 người, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  8. Trần Tiến H; sinh năm 1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: C L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 7 đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần H1, sinh năm 1956 và bà: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1959; vợ: Ngô Thị C1, sinh năm 1996; con: có 01 người, sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Có mặt.

  9. Phan Thanh Â; sinh năm 1993, tại: tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: 9 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan D3, sinh năm 1967 và bà: Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1967; vợ: Đinh Vũ Uyên U, sinh năm 1993; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH D4; địa chỉ: A C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: bà Trần Hồng N2, là Giám đốc công ty.

Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Triệu Văn P2, là Phó Giám đốc công ty; nơi cư trú: 1 B, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Công ty TNHH S1; địa chỉ: số . Tháp B, Khu C, M2 (S), G N, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm: 1991.

    Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

  2. Ông Trương Minh T7, sinh năm: 1997.

    Địa chỉ: A N, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người bào chữa:

  1. Luật sư Phan Thị Thanh H3 - Văn phòng Luật sư Phan Thị Thanh H3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, là người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn N1 và Phan Thanh Â. Có mặt.
  2. Luật sư Lê Mạnh C2 - Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, là người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Công M. Có đơn xin vắng mặt và gửi bài bào chữa.
  3. Luật sư Nguyễn Văn Đ1 - Văn phòng L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, là người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Công L1. Có mặt.
  4. Luật sư Dương Phúc H4 - Văn phòng Luật sư Dương Phúc H4, thuộc Đoàn Luật Sư Thành phố H, là người bào chữa cho các bị cáo Huỳnh Văn C và Nguyễn Văn L. Có mặt.
  5. Luật sư Nguyễn Trung C3 - Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, là người bào chữa cho các bị cáo Huỳnh Hữu T3 và Huỳnh Công K. Có mặt.
  6. Luật sư Nguyễn Trọng H5 - Công ty L5, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N1. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Hà Ngọc T8 - Văn phòng L6, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH S1 (viết tắt là Công ty S2), địa chỉ tại số . Tháp B, Khu C, M2 (S), 72 đường N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị phân phối độc quyền tại thị trường Việt Nam thiết bị âm thanh hiệu P3.

Ngày 19/7/2022, Công ty S2 nhập khẩu 293 thiết bị âm thanh hiệu Phantom Devialet và ký hợp đồng vận chuyển với Công ty TNHH D4 (viết tắt là Công ty D4), địa chỉ số A đường C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp nhận và vận chuyển số thiết bị trên từ Sân bay T về kho hàng của Công ty S2 tại địa chỉ số G N, phường A, thành phố T. Đến 17 giờ ngày 19/7/2022, các nhân viên Công ty D4 xếp số hàng trên lên xe tải 51C-506.63 (do Trần Tiến H là tài xế) và xe tải 50H-011.27 (do Huỳnh Hữu T3 là tài xế) để vận chuyển về bãi xe tải tại A đường C, để đến khi hết thời gian cấm xe tải thì tiếp tục đi giao hàng cho Công ty S2.

Nguyễn Văn L làm chung công ty với H và T3, nên L biết H và T3 chở các thiết bị âm thanh vào ngày 19/7/2022. Văn L nảy sinh ý định trộm cắp thiết bị âm thanh trong thời gian H và T3 đậu xe chờ tại bãi. Đến 18 giờ ngày 19/7/2022, Văn L tự mở thùng tải xe 51C-506.63 (không niêm phong), để trộm cắp loa, thì Huỳnh Công M và Huỳnh Công K nhìn thấy, nên ba người cùng nhau trộm cắp được 07 loa nghe nhạc hiệu Phantom Devialet các loại và 01 cái chân đế loa. Sau đó, Văn L đi đến xe tải của Nguyễn Văn N1 thuê N1 chở số hàng hóa vừa trộm được với giá 500.000 đồng. N1 điều khiển xe tải 50H-170.55 đến đậu gần xe tải 51C-506.63, M và K đưa số loa vừa trộm cắp được lên xe của N1. Lúc này, N1 biết số hàng trên do trộm cắp có được nhưng vẫn đồng ý chở. Xếp xong hàng, M đóng cửa thùng xe tải, Nam chạy về đậu tại vị trí ban đầu trong bãi xe, còn K ra về.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Văn L cùng M tiếp tục trộm cắp loa trong thùng xe tải 50H-011.27 của T3, M rủ T3 tham gia. T3 đồng ý và điều khiển xe tải 50H-011.27 chạy lên phía trước khoảng 1m để mở thùng xe trộm cắp tài sản. Lúc này, Huỳnh Văn C (là tài xế làm chung với N1) đi đến, N1 rủ C cùng trộm cắp tài sản. Chắt xuống khu vực đậu xe tải thấy Văn L, M và Huỳnh Công L1 đang vận chuyển loa từ thùng xe tải 50H-011.27 xuống đất. Chắt đến hỗ trợ trộm cắp được 06 loa loại lớn rồi đưa lên thùng xe của N1 đi cất giấu.

Sau khi lấy được 13 loa hiệu Phantom Devialet các loại và 01 cái chân đế, cả nhóm hẹn nhau gặp tại nhà trọ của N1 tại quận T. Riêng C không đi mà đi đến chỗ đậu xe tải 51C-506.63, cùng Công L1 và T3 lấy trộm được 06 loa hiệu Phantom Devialet các loại.

Sau đó, H và T3 đã điều khiển 02 xe tải trên đến giao hàng cho Công ty S2. Đến khoảng 21 giờ 25 ngày 19/7/2022, anh Nguyễn Văn T6 (đại diện Công ty S2) phát hiện mất số hàng trên nên đã đến Phòng C4 Công an Thành phố H trình báo.

Tại Kết luận định giá tài sản số 8887/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp thành phố, kết luận: Thời điểm ngày 19/7/2022, 08 (tám) loa Phantom I 108dB Opera trị giá 478.849.582 đồng, 01 (một) loa Phantom I 108dB Gold trị giá 54.264.597 đồng, 02 (hai) loa Phantom I 103dB trị giá 77.876.794 đồng, 01 loa Phantom II 98dB Iconic White trị giá 25.247.715 đồng, 07 (bảy) loa Phantom II 95dB trị giá 146.424.599 đồng, 01 chân loa Legs Black trị giá 3.447.670 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 786.111.000 đồng.

Trong đó, Huỳnh Công K cùng với Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M, Nguyễn Văn N1 thực hiện trộm cắp 01 lần tại xe tải 51D-506.63 chiếm đoạt 07 loa nghe nhạc các loại và 01 chân đế loa với tổng trị giá 211.161.180 đồng.

Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M, Nguyễn Văn N1 cùng nhau thực hiện trộm cắp 02 lần, cụ thể: Tại xe tải 51D-506.63 (cùng với Huỳnh Công K) được 07 loa nghe nhạc các loại, 01 cái chân đế loa; tại xe tải 50H-011.27 được 06 loa nghe nhạc các loại. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 02 lần là 543.788.966 đồng.

Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Hữu T3 cùng thực hiện trộm cắp 02 lần: Tại xe tải 50H-011.27 được 06 loa nghe nhạc các loại; tại xe tải 51D-506.63 được 06 loa nghe nhạc các loại. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 02 lần là 574.949.780 đồng.

Trần Tiến H, khi giao hàng cho Công ty S2 biết số hàng giao đã bị trộm cắp. Khi đang điều khiển xe tải về, thì Huỳnh Văn C điện thoại cho H và nói sẽ cho H 01 loa nghe nhạc để tại bãi xe của Công ty D4, khi H điều khiển xe về bãi xe, H đã lấy 01 loa nghe nhạc mang về nhà cất giấu.

Ngày 22/7/2022 và ngày 25/7/2022, Huỳnh Công M nhờ Phan Thanh  bán giúp 01 loa nghe nhạc, Huỳnh Văn C nhờ  bán giúp 02 loa nghe nhạc,  biết rõ các loa nghe nhạc này do M và C trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mang đi tiêu thụ.

Sau khi chiếm đoạt 19 loa nghe nhạc các loại, các bị can đã chia nhau và mang đi tiêu thụ, cụ thể như sau:

Huỳnh Công K được chia 01 (một) loa Phantom I 103dB Opera, 01 (một) loa Phantom II 95dB, K nhờ Huỳnh Công T9 (em ruột của Huỳnh Công L1) bán giúp. T9 đã bán cho Đồng Văn T10 với giá 51.000.000 đồng, T9 đưa cho K 25.000.000 đồng, hưởng lợi 26.000.000 đồng.

Nguyễn Văn L được chia 01 loa Phantom I 103dB, 01 loa Phantom II 95dB. Ngày 24/7/2022, Văn L nhờ Trương Minh T7 (làm chung Công ty D4) bán 01 loa Phantom II 95dB. T7 bán cho Đồng Văn T10 với giá 16.000.000 đồng. T7 đưa cho Văn L 9.000.000 đồng, T7 hưởng lợi 7.000.000 đồng. Còn 01 (một) loa Phantom I 103dB, Văn L đã vứt bỏ khi bị phát hiện, không thu hồi được.

Nguyễn Văn N1 được chia 01 loa Phantom I 108dB Opera và 01 chân đế, Ngày 24/7/2022, N1 nhờ T7 bán 01 loa Phantom I 103dB. T7 đã bán chiếc loa trên cho Đồng Văn T10 với giá 35.000.000 đồng. T7 đưa cho N1 30.000.000 đồng, T7 hưởng lợi 5.000.000 đồng. Còn 01 chân đế, N1 đã vứt bỏ khi bị phát hiện, không thu hồi được.

Huỳnh Công M được chia 01 loa Phantom I 108dB Opera và 01 loa Phantom II 95dB, M nhờ Â bán 01 loa Phantom I 108dB Opera, Â nhờ Đinh Vũ Duy H6 (em vợ của Â) và Đặng Bảo L2 (bạn của H6) rao bán chiếc loa trên. H6 và L2 đã bán cho Đồng Văn T10 chiếc loa trên với giá 30.000.000 đồng. Hân giao số tiền trên cho Â, Â cho L2 1.000.000 đồng, đưa cho M 19.000.000 đồng, Â hưởng lợi số tiền 10.000.000 đồng. M giao nộp 01 loa Phantom II 95dB.

Huỳnh Văn C được chia 01 loa Phantom I 108dB Gold, 01 loa Phantom I 108dB Opera và 01 loa Phantom II 95dB. Chắt nhờ Â bán 01 loa Phantom I 108dB Opera và 01 loa Phantom II 95dB, Â cũng nhờ H6 và L2 bán cho Đồng Văn T10 với giá 32.000.000 đồng. Hân giao số tiền trên cho Â, Â cho L2 2.000.000 đồng, đưa cho C số tiền 22.000.000 đồng, Â hưởng lợi số tiền 8.000.000 đồng. Chắt giao nộp 01 loa Phantom I 108dB Opera.

Huỳnh Công L1 được chia 01 loa Phantom I 108dB Gold và 01 loa Phantom II 95dB. L1 đã bán 02 loa Phantom I 108dB Opera cho 01 người không rõ lai lịch được 40.000.000 đồng.

Huỳnh Công L1, Huỳnh Hữu T3 được chia 02 loa Phantom I 108dB Opera và Trần Tiến H được chia 01 loa Phantom II 95dB, đã nhờ Huỳnh Công T9 (em ruột của Công L1) bán 02 loa Phantom II 95dB (của Công L1 và H) và 01 loa Phantom I 108dB Opera (của Huỳnh Hữu T3). T9 đã bán cho Triệu Minh T11 với giá 49.000.000 đồng (không xác định được cụ thể giá từng loại loa). T9 đã đưa cho Công L1 10.000.000 đồng, đưa cho T3 20.000.000 đồng và đưa cho H 10.000.000 đồng. Thương hưởng lợi 9.000.000 đồng. Huỳnh Hữu T3 giao nộp 01 loa Phantom I 108dB Opera.

Ngày 31/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Huỳnh Văn C, Nguyễn Văn L, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Hữu T3, Nguyễn Văn N1, Huỳnh Công K, Trần Tiến H và Phan Thanh Â.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Huỳnh Văn C, Nguyễn Văn L, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Hữu T3, Nguyễn Văn N1, Huỳnh Công K, Trần Tiến H và Phan Thanh  đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Đối với Huỳnh Công T9 (em ruột Huỳnh Công L1), Trương Minh T7 (người làm chung với các bị can trên) đã bán loa do K, Văn L, M và N1 nhờ bán hộ và đã bán cho Đồng Văn T10; Đinh Vũ Duy H6 (em vợ Phan Thanh Â), Đặng Bảo L2 (bạn của H6) đã bán loa do C, Công L1 và T3 nhờ bán hộ và đã bán cho Triệu Minh T11, các đối tượng này không biết tài sản là do phạm tội mà có và đã tự nguyện giao nộp, khắc phục hậu quả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thành phố H không xem xét xử lý là có cơ sở.

Tại bản Cáo trạng số: 226/CT-VKS-P2 ngày 21/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

- Các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Văn L, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Hữu T3 và Nguyễn Văn N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Bị cáo Huỳnh Công K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Bị cáo Phan Thanh  về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Bị cáo Trần Tiến H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M và Huỳnh Công K khai nhận: khi các bị cáo lấy loa từ xe tải biển số 51C-506.63 (bị cáo H điều khiển) thì thấy bị cáo H đi ngang qua, không biết bị cáo H có biết các bị cáo đang lấy loa hay không, nhưng thấy bị cáo H không dừng lại xem cũng như không có phản ứng gì, những nội dung còn lại đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

- Bị cáo Trần Tiến H khai nhận: bị cáo chạy xe từ sân bay về đậu tại bãi xe của công ty để chờ đến giờ được chạy thì tiếp tục đi giao hàng, sau đó bị cáo về nhà ăn cơm. Sau khi quay trở lại thì bị cáo phát hiện có 1 đống hàng để phía sau đuôi xe tải, cách xe của bị cáo 5 mét, bị cáo đoán đây là hàng do các tài xế trộm cắp do trước đây bị cáo từng nghe sự việc các tài xế trộm hàng trái cây, do lúc này trời tối nên không để ý thấy có ai xung quanh hay không. Sau khi đến nơi giao hàng bị cáo mới biết là trên xe bị cáo bị mất hàng. Trên đường về thì Huỳnh Văn C gọi điện thoại nói cho bị cáo 01 cái loa, thì bị cáo biết là số loa trên xe tôi bị mất là do C lấy; do nghĩ tài sản là loa có giá trị nhỏ nên bị cáo đồng ý lấy và mang về nhà.

- Bị cáo Huỳnh Hữu T3 và Trần Tiến H khai nhận: các bị cáo là tài xế chỉ có nhiệm vụ lái xe từ điểm nhận hàng đến nơi giao hàng, không chịu trách nhiệm về hàng hóa trên xe, khi có mất, hư hỏng hàng hóa thì công ty chịu trách nhiệm và sẽ thỏa thuận giải quyết với tài xế sau.

- Ông Triệu Văn P2 – đại diện cho công ty D4 trình bày: các tài xế chỉ có nhiệm vụ lái xe, vận chuyển hàng hóa từ nơi nhận hàng đến nơi giao hàng, không được đụng tới hàng hóa trong quá trình vận chuyển; nếu trong quá trình vận chuyển có mất, hỏng hàng hóa thì công ty sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho đối tác, công ty sẽ thỏa thuận, giải quyết với tài xế sau. Trong vụ này công ty Phúc Ân đã bồi thường trị giá thành tiền toàn bộ số hàng bị mất cho chủ sở hữu. Công ty không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, số tiền đó coi như cho các bị cáo vì các bị cáo có thời gian dài làm việc tại công ty. Công ty yêu cầu Hội đồng xét xử trả lại cho công ty số tiền thu hồi được là 100.600.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, từ đó giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn C từ 14 năm đến 15 năm tù;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 13 năm đến 14 năm tù;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Công L1, từ 14 năm đến 15 năm tù;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Công M từ 12 năm đến 13 năm tù;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu T từ 13 năm đến 14 năm tù;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 12 năm đến 13 năm tù;

Về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công K từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Phan Thanh  từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Trần Tiến H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Về trách nhiệm dân sự: Công ty Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phúc Ân đã bồi thường toàn bộ cho Công ty TNHH StreamCast Asia Việt Nam, và công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phúc Ân không yêu cầu các bị cáo bồi thường lại nên không xem xét. Tuy nhiên do các bị cáo phạm tội chiếm đoạt tài sản, nên buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho công ty Phúc Ân số tiền 100.600.000 đồng.

- Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo:

- Luật sư Phan Thị Thanh Hậu bào chữa cho bị cáo Phan Thanh  trình bày: không đồng ý truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự, vì khi nhận bán giúp loa lần thứ 1 bị cáo Ân không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên không thể truy tố bị cáo lần này, đến lần thứ 2 bị cáo mới biết đây là hàng trộm cắp, do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo chỉ phạm tội theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã nộp lại tiền thu lợi để khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo có công việc ổn định, nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội nuôi 3 con còn nhỏ.

- Luật sư Lê Mạnh gửi bài bào chữa cho bị cáo Huỳnh Công M: đồng ý về tội danh, khung hình phạt và điều luật áp dụng truy tố bị cáo. Chỉ nêu ra tình tiết giảm nhẹ: công ty đã bồi thường cho chủ sở hữu coi như hậu quả đã được khắc phục, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, từ đó áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

- Luật sư Nguyễn Văn Đức bào chữa cho bị cáo Huỳnh Công L1; đồng ý về tội danh, khung hình phạt và điều luật áp dụng truy tố bị cáo. Xét thấy hậu quả của vụ án đã được khắc phục, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức hình phạt nhẹ hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

- Luật sư Dương Phúc Hậu bào chữa cho các bị cáo Huỳnh Văn C và Nguyễn Văn L: đồng ý với cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt. Không đồng ý với mức hình phạt Viện kiểm sát nêu ra vì quá nặng. Vì gia đình các bị cáo đã tác động đến công ty bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt.

- Luật sư Nguyễn Trung Chánh bào chữa cho các bị cáo Huỳnh Hữu T và Huỳnh Công K: thống nhất với cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt. Không đồng ý với mức hình phạt Viện kiểm sát nêu ra vì quá nghiêm khắc. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Thành đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính, bị cáo Khanh được xem như đã bồi thường thiệt hại, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

- Luật sư Nguyễn Trọng Hào bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Không có ý kiến về tội danh, khung hình phạt truy tố bị cáo. Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngay từ đầu bị cáo không có động cơ phạm tội, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

- Luật sư Hà Ngọc Tuyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Không có ý kiến về tội danh, điều luật truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho công ty Phúc Ân số tiền mà bị cáo và những người khác nộp lại để khắc phục hậu quả. Do công ty Phúc Ân đã bồi thường cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng các bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Văn L, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Công K, Huỳnh Hữu T, Nguyễn Văn N, Trần Tiến H và Phan Thanh  không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Văn L, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Công K, Huỳnh Hữu T và Nguyễn Văn N, Trần Tiến H và Phan Thanh  tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 18 giờ ngày 19/7/2022, tại bãi xe của Công ty TNHH vận tải Phúc Ân tại số 18D Cộng Hòa, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn L, Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Công K, Huỳnh Hữu T và Nguyễn Văn N đã lén lút chiếm đoạt của công ty Phúc Ân – công ty chịu trách nhiệm về tài sản trong quá trình vận chuyển từ sân bay Tân Sơn Nhất về kho hàng của công ty StreamCast, 19 loa nghe nhạc hiệu Phantom Devialet các loại và 01 chân đế loa có tổng trị giá là 786.111.000 đồng.

Trong đó, Huỳnh Công K cùng với Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M, Nguyễn Văn N thực hiện trộm cắp 01 lần tại xe tải 51D-506.63 chiếm đoạt 07 loa nghe nhạc các loại và 01 chân đế loa với tổng trị giá 211.161.180 đồng.

Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M, Nguyễn Văn N cùng nhau thực hiện trộm cắp 02 lần, cụ thể: Tại xe tải 51D-506.63 (cùng với Huỳnh Công K) được 07 loa nghe nhạc các loại, 01 cái chân đế loa; tại xe tải 50H-011.27 được 06 loa nghe nhạc các loại. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 02 lần là 543.788.966 đồng.

Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Hữu T cùng thực hiện trộm cắp 02 lần: Tại xe tải 50H-011.27 được 06 loa nghe nhạc các loại; tại xe tải 51D-506.63 được 06 loa nghe nhạc các loại. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 02 lần là 574.949.780 đồng.

Trần Tiến H, khi giao hàng cho Công ty StreamCast biết số hàng giao đã bị trộm cắp. Khi đang điều khiển xe tải về, thì Huỳnh Văn C điện thoại cho Hậu và nói sẽ cho Hậu 01 loa nghe nhạc để tại bãi xe của Công ty Phúc Ân, lúc này bị cáo biết được loa mà bị cáo Chắt cho là do trộm cắp mà có, nhưng bị cáo vẫn mang về nhà cất giấu và đem bán hưởng lợi 10.000.000 đồng.

Ngày 22/7/2022 và ngày 25/7/2022, Huỳnh Công M nhờ Phan Thanh  bán giúp 01 loa nghe nhạc, Huỳnh Văn C nhờ Ân bán giúp 02 loa nghe nhạc, Ân biết rõ các loa nghe nhạc này do Minh và Chắt trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mang đi bán để hưởng số tiền chênh lệch. 03 loa nghe nhạc hiệu Phantom Devialet mà bị cáo Ân nhận để bán có tổng trị giá là 135.038.539 đồng và bị cáo hưởng lợi 18.000.000 đồng.

Hành vi trên của các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Công K, Huỳnh Hữu T và Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Công K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Hành vi trên của bị cáo Phan Thanh  đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thuộc trường hợp “Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Hành vi trên của bị cáo Trần Tiến H đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Công K, Huỳnh Hữu T và Nguyễn Văn N là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội; hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Thanh Â, Trần Tiến H là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Trong vụ án trộm cắp tài sản, các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Công K, Huỳnh Hữu T và Nguyễn Văn N tham gia với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo Nguyễn Văn L có vai trò là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác, nên hình phạt dành cho bị cáo Nguyễn Văn L phải nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại; các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Văn C, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công M, Huỳnh Hữu T và Nguyễn Văn N tham gia đồng phạm với vai trò thực hành, giúp sức tích cực, nên hình phạt dành cho các bị cáo trong vụ án phải phù hợp với tính chất, vai trò cũng như xét đến nhân thân của từng bị cáo.

Các bị cáo đã thành niên nên nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì tham lam, hám lợi mà các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã bất chấp hậu quả, xem thường pháp luật, nên cần có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[3] Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M, Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn C, Huỳnh Hữu T, Huỳnh Công L1 thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần, nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; các bị cáo Huỳnh Văn C, Huỳnh Hữu T, Nguyễn Văn N và Phan Thanh  đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51; bị cáo Trần Tiến H “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51; các bị cáo Nguyễn Văn L, Huỳnh Công M, Nguyễn Văn N, Huỳnh Văn C, Huỳnh Hữu T, Huỳnh Công L1, Huỳnh Công K và Trần Tiến H được đại diện cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Lập luận nêu trên của Hội đồng xét xử là căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận quan điểm bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư bào chữa cho các bị cáo và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Công ty Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phúc Ân đã bồi thường toàn bộ cho Công ty TNHH StreamCast Asia Việt Nam, và công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phúc Ân không yêu cầu các bị cáo bồi thường lại nên không xem xét. Tuy nhiên do các bị cáo phạm tội chiếm đoạt tài sản, nên buộc các bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước, cụ thể như sau:

  • Bị cáo Huỳnh Văn C thu lợi số tiền 22.000.000 đồng, đã nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, do đó bị cáo còn phải nộp lại số tiền 2.000.000 đồng;
  • Bị cáo Nguyễn Văn L nộp lại số tiền 9.000.000 đồng;
  • Bị cáo Huỳnh Công L1 nộp lại số tiền 50.000.000 đồng;
  • Bị cáo Huỳnh Công M nộp lại số tiền 19.000.000 đồng;
  • Bị cáo Huỳnh Công K nộp lại số tiền 26.000.000 đồng;
  • Bị cáo Trần Tiến H nộp lại số tiền 10.000.000 đồng;

[5] Về vật chứng:

Số tiền 100.600.000 đồng là tiền mà các bị cáo và các đối tượng mua loa nộp lại, xét thấy công ty Phúc Ân đã bồi thường tài sản là số loa bị mất cho chủ sở hữu, nên cần trả số tiền này cho công ty Phúc Ân.

- Thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Trương Minh T;
  • 01 (một) điên thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Huỳnh Văn C;
  • 01 (một) điện thoại đi động hiệu Vivo màu xanh-tím của Nguyễn Văn L;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng của Huỳnh Công L1;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh của Huỳnh Công M;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Huỳnh Công K;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen của Huỳnh Hữu T;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu trắng - xanh của Nguyễn Văn N;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng của Trần Tiến H;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell màu đen của Phan Thanh Â.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Huỳnh Văn C và Trần Tiến H sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước; đối với những điện thoại còn lại của các bị cáo và người liên quan, xét thấy đây là tài sản riêng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo và những người này.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn L 14 (mười bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    Xử phạt: bị cáo Huỳnh Công L1 13 (mười ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    Xử phạt: bị cáo Huỳnh Công M 13 (mười ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt: bị cáo Huỳnh Văn C 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    Xử phạt: bị cáo Huỳnh Hữu T 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    - Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt: bị cáo Huỳnh Công K 07 (bảy) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 323; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt: bị cáo Phan Thanh  03 (ba) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    - Căn cứ điểm khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Xử phạt: bị cáo Trần Tiến H 01 (một) năm 09 (chín) tháng 19 (mười chín) ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2022.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Tiến H, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  2. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017:

    Buộc các bị cáo sau đây nộp lại số tiền thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

    • Bị cáo Huỳnh Văn C nộp lại số tiền 2.000.000 đồng;
    • Bị cáo Nguyễn Văn L nộp lại số tiền 9.000.000 đồng;
    • Bị cáo Huỳnh Công L1 nộp lại số tiền 50.000.000 đồng;
    • Bị cáo Huỳnh Công M nộp lại số tiền 19.000.000 đồng;
    • Bị cáo Huỳnh Công K nộp lại số tiền 26.000.000 đồng;
    • Bị cáo Trần Tiến H nộp lại số tiền 10.000.000 đồng;
  3. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Trả cho Công ty TNHH vận tải Phúc Ân số tiền 100.600.000 (một trăm triệu sáu trăm ngàn) đồng.

    (Theo giấy nộp tiền ngày 18/10/2022 vào số tài khoản 39490905977500000 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tại Kho bạc nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh)

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng (màn hình bể, Imei khay sim:...520398, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

    - Trả lại cho:

    • Bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) điện thoại đi động hiệu Vivo màu xanh tím (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • Bị cáo Huỳnh Công L1 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng (Imei khay sim:...272366, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • Bị cáo Huỳnh Công M 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh (màn hình bể Imei: 271968/7, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • Bị cáo Huỳnh Công K 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • Bị cáo Huỳnh Hữu T 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (Imei:...12844/8, model GT-I9082, không kiểm tra đời máy do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • Bị cáo Nguyễn Văn N: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu trắng xanh (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • Bị cáo Phan Thanh Â: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell màu đen (không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
    • Ông Trương Minh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen (không sim, không Imei khay sim, thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu đen, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

    (Vật chứng theo biên bản tang tài vật số NK 2024/020 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

  4. Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Các bị các, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND tối cao; (1)

- TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)

- VKSND TP. HCM; (3)

- Cục Thi hành án dân sự; (1)

- Sở tư pháp; (1)

- Trại giam; (8)

- Bị cáo; (9)

- NCQLNVLQ; (2)

- Thi hành án hình sự; (9)

- Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)

- UBND nơi bị cáo cư trú; (9)

- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (40) (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đức Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 236/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 14 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Huỳnh Công L1 13 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Huỳnh Công M 13 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Huỳnh Văn C 12 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Huỳnh Hữu T 12 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Nguyễn Văn 12 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Huỳnh Công K 07 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị cáo Phan Thanh  3 năm tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"; bị cáo Trần Tiến H 01 năm 9 tháng 19 ngày tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger