Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 236/2023/DS-ST

Ngày: 18/12/2023

V/v Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đức Nhì
  2. Bà Vũ Thị Hiệp

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận S xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 99/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2023/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần QT.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 1 (Tầng trệt) và Tầng 2 tòa nhà B, Số 111A P, phường BN, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Kha Cẩm P – sinh năm 19xx (theo giấy ủy quyền số 110139.22 ngày 10/10/2022) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh Q – sinh năm 19xx (vắng mặt).

HKTT: Số 9x Đường 4x, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, phía nguyên đơn do bà Kha Cẩm P đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần QT trình bày: Ngày 15/10/2019 ông Nguyễn Mạnh Q có ký hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm: giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản và bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng V, để vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần QT (sau đây gọi là Ngân hàng) sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Mạnh Q, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng số 5138920000269xxx với hạn mức tín dụng là 177.000.000 đồng. Theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng V, để vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần QT, hai bên thỏa thuận tiền lãi phải trả theo lãi suất do Ngân hàng quyết định (theo biểu phí V Cash Back, biểu phí dịch vụ thẻ tín dụng V), thời hạn thanh toán là ngày 10 hàng tháng. Ngân hàng đã phát hành và gửi cho ông Nguyễn Mạnh Q thẻ tín dụng số 5138920000269xxx. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Mạnh Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 184.000.000 đồng và đã thanh toán 48.559.242 đồng (trong đó thanh toán nợ gốc: 20.891.072 đồng, nợ lãi: 26.769.170 đồng, nợ phí: 899.000 đồng). Quá trình trả nợ ông Nguyễn Mạnh Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 05/5/2020, sau nhiều lần Ngân hàng gửi văn bản nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Mạnh Q không có thiện chí trả nợ. Ngày 28/6/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Nguyễn Mạnh Q, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần QT yêu cầu ông Nguyễn Mạnh Q thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 18/12/2023: 294.208.557 đồng, trong đó: nợ gốc 163.108.928 đồng, nợ lãi 72.788.593 đồng, nợ phí 58.311.036 đồng) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/12/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả một lần toàn bộ ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Mạnh Q vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết tại Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ, ông cũng không có văn bản ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Bị đơn - ông Nguyễn Mạnh Q vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận S phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Mạnh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng theo quy định pháp luật. Qua kiểm sát vụ án tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận S về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]-Thẩm quyền loại việc:

Ngân hàng TMCP QT khởi kiện ông Nguyễn Mạnh Q yêu cầu thanh toán tiền vay. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc tranh chấp dân sự: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.

[2]-Thẩm quyền lãnh thổ:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP QT có đơn khởi kiện ông Nguyễn Mạnh Q có hộ khẩu thường trú tại số 9x đường 4x, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận S.

[3]-Thời hiệu khởi kiện vụ án:

Căn cứ vào thời điểm ông Nguyễn Mạnh Q ngừng thanh toán các khoản theo thỏa thuận cho Ngân hàng TMCP QT bắt đầu vào ngày 05/5/2020. Ngày 03/01/2023 Ngân hàng TMCP QT nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận S. Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng dân sự được xác định là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429, 688 Bộ luật dân sự 2015 nên việc khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.

Bị đơn – ông Nguyễn Mạnh Q vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[1]- Ngày 15/10/2019, ông Nguyễn Mạnh Q có ký với Ngân hàng TMCP QT hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngân hàng đã phát hành và giao thẻ cho ông Nguyễn Mạnh Q. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Mạnh Q đã thực hiện các giao dịch từ tháng 10/2019 đến tháng 6/2021 với tổng số tiền là 184.000.000 đồng, ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 48.559.242 đồng (tiền gốc: 20.891.072 đồng, nợ lãi: 26.769.170 đồng, nợ phí: 899.000 đồng). Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 28/6/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Q, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần QT yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Mạnh Q thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 18/12/2023 là 294.208.557 đồng, trong đó: nợ gốc 163.108.928 đồng, nợ lãi 72.788.593 đồng, nợ phí 58.311.036 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/12/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả một lần toàn bộ ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 15/10/2019 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần QT và ông Nguyễn Mạnh Q, có chữ ký xác nhận của hai bên trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối hay cưỡng ép, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, phù hợp với quy định tại Điều 385 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thực hiện hợp đồng sau khi được nhận thẻ tín dụng từ tháng 10/2019 đến tháng 6/2021 ông Q đã sử dụng tổng số tiền là 184.000.000 đồng. Từ ngày 28/6/2021 do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Vì vậy Ngân hàng TMCP QT yêu cầu ông Nguyễn Mạnh Q phải có trách nhiệm thanh toán các khoản còn nợ tạm tính đến ngày 18/12/2023 với tổng số tiền là: 294.208.557 đồng, trong đó: nợ gốc 163.108.928 đồng, nợ lãi 72.788.593 đồng, nợ phí 58.311.036 đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ và đúng quy định tại điều 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận

[2]- Căn cứ án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 có nội dung: “Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này...”. Do đó yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Mạnh Q tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Nguyễn Mạnh Q phải chịu 14.710.428 đồng án phí dân sự sơ thẩm .
  • - Ngân hàng TMCP QT không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP QT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 7.236.792 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 184, điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng các Điều 385, 429, 463, 466, 688 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Áp dụng các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Áp dụng Điều 26 của Luật thi hành án dân sự năm 2014;
  • - Áp dụng Điều 48 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Án lệ 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc ông Nguyễn Mạnh Q phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP QT số tiền 294.208.557 (hai trăm chín mươi bốn triệu hai trăm lẻ tám ngàn năm trăm năm mươi bảy) đồng, trong đó: nợ gốc 163.108.928 (một trăm sáu mươi ba triệu một trăm lẻ tám ngàn chín trăm hai mươi tám) đồng, nợ lãi 72.788.593 (bảy mươi hai triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn năm trăm chín mươi ba) đồng, nợ phí 58.311.036 (năm mươi tám triệu ba trăm mười một ngàn không trăm ba mươi sáu) đồng.

Thời hạn thanh toán: Trả ngay một lần khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 19/12/2023 ông Nguyễn Mạnh Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Ông Nguyễn Mạnh Q phải chịu 14.710.428 đồng án phí dân sự sơ thẩm
  • - Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP QT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.236.792 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013321 ngày 01/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận S.

3/ Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ;
  • -Viện kiểm sát nhân dân Quận S;
  • -Chi Cục Thi hành án dân sự Quận S;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu VP, HSVA;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2023/DS-ST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 236/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger