Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ V

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 236/2024/HS-ST

Ngày: 15/08/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Nữ Hạnh Dung

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Phương và bà Dương Thị Thúy Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Hoa - Thư ký TAND TP . V

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Báu - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 08 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 212/2024/HSST ngày 18 tháng 07 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 08 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn T; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1997 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: không xác định và bà Lê Thị T1; A, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/04/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Văn P; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1991 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn C và bà Nguyễn Thị Y; A, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Lê Thị Ngọc L – sinh năm 1998, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 11/04/2018 bị TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/12/2019. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/04/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đậu Văn T2; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1996 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đậu Văn C1 và bà Nguyễn Thị P1; A, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thanh X – sinh năm 2000, có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/04/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 26/4/2024, Lê Văn THoàng Văn P đang ngồi ăn uống ở khu vực hồ G thuộc phường T, TP . thì T nói “lâu ngày ta mần tí hầy” (ý rủ P sử dụng ma túy) thì P đồng ý. Sau đó, T gọi điện cho Đậu Văn T2 nhờ T2 mua hộ ma túy đá để sử dụng thì T2 đồng ý và hẹn T xuống cổng trường Cao đẳng du lịch tại TX.C, Nghệ An để lấy tiền. Sau khi nhận lời mua hộ ma túy thì T2 gọi điện cho một nam thanh niên tên T3 (không biết rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy đá thì T3 đồng ý và yêu cầu T2 chuyển khoản cho T3 theo số tài khoản 0877786262 mang tên Nguyen Dinh T4 mở tại Ngân hàng TMCP C2 (V). Còn P và T sau khi thống nhất xong thì điều khiển xe máy của T mang biển kiểm soát 37M1 – 266.40 đến điểm hẹn gặp T2. Tại đây, P đưa cho T 500.000 đồng, còn T góp 500.000 đồng nữa để mua ma túy. Sau đó, T và T2 cầm tiền đi đến hiệu tạp hóa gần đó mua nước và thuốc hết 50.000 đồng và nhờ chủ quán chuyển 950.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng TMCP K (T6) số 19038793225014 của Đậu Văn T2. Sau khi có tiền trong tài khoản, T2 chuyển 950.000 đồng vào tài khoản của T4 như yêu cầu rồi điện lại cho T4 thì T4 hẹn đến khu vực ngã tư đèn xanh đỏ gần Đ tưởng niệm liệt sỹ phường N, TX . C, Nghệ An để lấy ma túy. T2 và T đi đến điểm hẹn chờ một lúc thì có một nam thanh niên đi qua ném gói ma túy ở vỉa hè gần ngã tư, T2 gọi T lại nhặt gói ma túy sau đó chở T đi về TP .. Sau khi T và T2 đi mua ma túy, P đứng chờ ở Quảng trường C một lúc thì T điện thoại nói P về trước đi thì P điều khiển xe máy quay về TP .. Khi đi đến khu vực cầu B thuộc xã H, TP Nghệ An thì cả ba gặp nhau nên dừng lại. Ngay lúc đó, tổ công tác Công an phường H đến yêu cầu kiểm tra hành chính, do hoảng sợ, Lê Văn T đã thả gói ma túy cầm trong tay phải xuống đất thì Công an phát hiện yêu cầu T nhặt lên giao nộp. Sau đó, tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 về trụ sở Công an phường H, thành phố V để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 479/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 03/05/2024 của Phòng K1 Công an N kết luận: mẫu chất cục bột màu trắng thu giữ của Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 gửi tới giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,589 g.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa 0,589 gam ma túy (Metamphetamine).
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, phía sau bị vỡ thu giữ của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu trắng thu giữ của Đậu Văn T2.
  • - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh bạc, BKS: 37M1 – 154.86 thu giữ của Đậu Văn T2 thuộc quyền sở hữu của ông Đậu Văn C1, sinh năm 1967, trú tại: Thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu.
  • - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave alpha, màu đen bạc, biển số 37M1- 266.40 thu giữ của Lê Văn T thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị A, sinh năm 1998, trú tại: Thôn G, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu.

Cáo trạng số 227/CT-VKS-TPV ngày 17/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Lê Văn T, Hoàng Văn P mỗi bị cáo từ 18 – 21 tháng tù, xử phạt Đậu Văn T2 từ 15 – 18 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà, các bị cáo Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 22 giờ 20 phút ngày 26/4/2024, tại khu vực ngã tư Bưu điện thuộc xã H, TP V, Nghệ An. Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 đang có hành vi cất giữ trái phép 0,589g ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi mà Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.

[2.2] Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, vi phạm các quy định của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, giống nòi, là nguồn gốc gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo P cùng sử dụng ma túy nên giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo P là người góp tiền cùng T để mua ma túy sử dụng, đã từng bị xét xử về tội ma túy nhưng không lấy đó làm bài học răn mình, chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật kém. Bị cáo T2 là người mua hộ ma túy cho T và P nên giữ vai trò đồng phạm giúp sức. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi và mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm gương răn đe những đối tượng khác. Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo T2 có bác là liệt sỹ hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm, để các bị cáo thấy khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sửa chữa.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[2.4] Trong vụ án này, theo lời khai của Đậu Văn T2 về người đàn ông bán ma túy cho T2 có tên T4 ở thị xã C nhưng không biết đặc điểm, lai lịch, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an T đã tiến hành xác minh xác định được đối tượng Nguyễn Đình T5, sinh ngày 21/7/1987, trú tại: K, phường N, TX C, tỉnh Nghệ An là người nhận số tiền 950.000 đồng do T2 chuyển khoản. Hiện tại, Nguyễn Đình T5 đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N để điều tra về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Lệnh tạm giam của Công an T7, tỉnh Nghệ An. Quá trình làm việc Nguyễn Đình T5 khai nhận không biết Đậu Văn T2 là ai và không biết việc T2 chuyển khoản cho mình do thường xuyên cho bạn bè mượn tài khoản để nạp thẻ game. Nguyễn Đình T5 không thừa nhận bán ma túy cho T2. Lời khai của T2 là căn cứ duy nhất nên không có đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với Nguyễn Đình T5.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 là vật nhà nước cấm tàng trữ. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, phía sau bị vỡ thu giữ của Lê Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu trắng thu giữ của Đậu Văn T2 là công cụ phạm tội.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh bạc, BKS: 37M1 – 154.86 thu giữ của Đậu Văn T2 thuộc quyền sở hữu của ông Đậu Văn C1, sinh năm 1967, trú tại: Thôn D, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda wave alpha, màu đen bạc, biển số 37M1- 266.40 thu giữ của Lê Văn T thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị A, sinh năm 1998, trú tại: Thôn G, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Ông C1 và chị A khai báo cho các đối tượng trên mượn để đi, không biết không liên quan đến hành vi phạm tội của các đối tượng. Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại những phương tiện trên cho các chủ sở hữu là đúng quy định.

[2.6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đậu Văn T2 có Giấy chứng nhận hộ nghèo số 131 ngày 01/01/2024 do UBND xã T, huyện A cấp nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Lê Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/04/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Hoàng Văn P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/04/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt Đậu Văn T2 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/04/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của Lê Văn T, Hoàng Văn PĐậu Văn T2. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, phía sau bị vỡ thu giữ của Lê Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu trắng thu giữ của Đậu Văn T2. (Số vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2024/257 ngày 08/08/2024).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Lê Văn T, Hoàng Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí HSST cho bị cáo Đậu Văn T2.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND TP.Vinh
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - Chi cục THADS TP.Vinh
  • - Công an thành phố Vinh
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An
  • - Bị cáo
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hồ Nữ Hạnh Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 236/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T 18 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger