Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 236/2024/DS-ST

Ngày 09 – 8 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Thanh Phong

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi,

tỉnh Cà Mau.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 482/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ; Địa chỉ: Số A, đường T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình K – Chức vụ: Phó Tổng giám đốc (văn bản ủy quyền số 180/2024/UQ-SeABank ngày 06/3/2024).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Bùi Văn L – Chức vụ: Giám đốc chi nhánh C (văn bản ủy quyền số 3610/2024/UQ-SeABank ngày 26/3/2024).

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Bùi Văn L: Ông Lâm Trung T1 – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ và ông Trần Quốc H – Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ; Cùng địa chỉ: Số A, đường N, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền số 110/2024/UQ-SeABank ngày 26/6/2024) (ông T1 có mặt, ông H vắng mặt);

- Bị đơn:

1. Ông Tạ Trường D, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);

2. Bà Giang Mỹ H1, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Số E, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Nơi ở hiện tại: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và quá trình giải quyết vụ án người đại diện của Ngân hàng trình bày:

Ngân hàng và ông D, bà H1 có ký hợp đồng tín dụng cho vay từng lần số REF1928800071/HDTD/SMA-TTD ngày 15/10/2019, dư nợ là 872.000.000 đồng, thời hạn vay từ 15/10/2019 đến 15/10/2026, mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô phục vụ đi lại, lãi suất vay 9,8%/năm, cố định trong 12 tháng đầu, sau đó có điều chỉnh lãi suất, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trên nợ gốc quá hạn và 10% đối với lãi chậm trả.

Ngoài ra, ông D mở thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký vào ngày 10/10/2019, hạn mức 30.000.000 đồng, chủ thẻ Tạ Trường D.

Tài sản đảm bảo cho vay: Theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số REF1928800071/HDTC/SMA-TTD ngày 15/10/2019, biển kiểm soát: 69A-070.72, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, số khung 3GS5K2465740, số máy 2GD0722597, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014696 do phòng C1 Công an tỉnh C cấp ngày 15/10/2019 cho ông Tạ Trường D.

Quá trình vay ông D và bà H1 vi phạm nghĩa vụ trả gốc lãi nên nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D, bà H1 thanh toán cho Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF1928800071/HDTD/SMA-TTD ngày 15/10/2019, đơn đề nghị vay vốn và đề nghị kiêm hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 10/10/2019, số tiền nợ tính đến ngày 08/8/2024 số tiền là: 740.352.650 đồng trong đó: nợ gốc là: 496.813.982 đồng, nợ lãi trong hạn là: 152.133.480 đồng, nợ lãi quá hạn là: 91.405.188 đồng. Buộc ông D, bà H1 thanh toán cho Ngân hàng các khoản tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại các hợp đồng trên kể từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Nếu ông D, H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp nêu trên đảm bảo cho khoản vay. Nếu số tiền thu được xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng hoặc tài sản bảo đảm không xác minh, không kê biên được để thi hành án thì ông D, bà H1 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mãi các tài sản và nguồn thu khác của ông D, bà H1 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.

* Ông Tạ Trường D trình bày:

Ông D thống nhất cùng bà H1 có ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp như đại diện Ngân hàng trình bày nêu trên, mục đích vay để mua xe ô tô phục vụ đi lại. Để đảm bảo cho các khoản vay thì ông và bà H1 có ký hợp đồng thế chấp xe ô tô và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng do làm ăn khó khăn nên dẫn đến chậm thanh toán nợ cho Ngân hàng. Hiện tại xe vẫn do ông D đang quản lý, ông cũng đồng ý giao xe cho phía Ngân hàng để làm thủ tục phát mãi tài sản bảo đảm để thanh toán nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, do xe là phương tiện đi lại chính tạo nguồn thu nên chưa thực hiện giao xe cho Ngân hàng.

* Đối với bà Giang Mỹ H1:

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà H1 hợp lệ nhưng bà H1 chưa có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện nguyên đơn xác định giữ y yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn xác định qua yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông cũng thống nhất có nợ và trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét lại mức lãi suất Ngân hàng tính quá cao. Đối với trách nhiệm trả nợ, hiện tại ông và bà H1 đã ly hôn nhưng tại thời điểm ly hôn không đặt ra tài sản chung, nợ chung. Thời điểm vay vốn Ngân hàng cũng phục vụ kinh tế chung gia đình nên ông D yêu cầu đây là nợ chung nhưng ông sẽ có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng bởi tài sản là chiếc xe vẫn do ông quản lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Giang Mỹ H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Quốc H vắng mặt, tuy nhiên tại văn bản ủy quyền số 110/2024/UQ-SeABank ngày 26/6/2024 thể hiện nguyên đơn ủy quyền cho ông Lâm Trung T1 và ông Trần Quốc H tham gia tố tụng, trường hợp một bên vắng mặt thì người còn lại vẫn có quyền, nghĩa vụ đại diện cho nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2] Ngân hàng yêu cầu ông Tạ Trường D, bà Giang Mỹ H1 thanh toán nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, đồng thời công nhận hợp đồng thế chấp phát mãi tài sản bảo đảm thu hồi nợ cho các khoản vay. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu của Ngân hàng là tranh chấp hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Hợp đồng tín dụng:

Hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng với ông D, bà H1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông D, bà H1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, liên tục không trả nợ trong nhiều kỳ. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông D, bà H1 vẫn không thanh toán nợ. Tạm tính đến ngày 08/8/2024, tổng số tiền còn nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng và nợ thẻ số vốn là 496.813.982 đồng, lãi suất trong hạn 152.133.480 đồng, lãi suất quá hạn 91.405.188 đồng, tổng là 740.352.650 đồng. Trong đó có nợ thẻ tín dụng nợ tổng vốn là 12.344.408 đồng, nợ lãi quá hạn là 15.530.115 đồng. Quá trình giải quyết vụ án ông D đồng ý có ký hợp đồng vay vốn và dư nợ gốc tại Ngân hàng nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần cho Ngân hàng. Đối với bà H1 không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Do đó, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nay ông D, bà H1 vi phạm các nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng, mặc dù ông D xác định nợ chung nhưng yêu cầu một mình ông có trách nhiệm trả nợ là chưa phù hợp. Bởi lẽ, đây là nợ chung của ông và bà H1, ông bà không có thỏa thuận việc phân chia tài sản chung và nợ chung, đại diện nguyên đơn cũng không thống nhất trách nhiệm trả nợ chỉ thuộc về một mình ông D. Do đó, cần buộc ông D, bà H1 cùng có trách nhiệm trả số tiền còn nợ nêu trên cho Ngân hàng là phù hợp với Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng.

[3.2] Về lãi suất:

Đối với khoản tiền lãi mà Ngân hàng tạm tính đến ngày 08/8/2024 trong đó nợ lãi trong hạn 152.133.480 đồng, lãi suất quá hạn 91.405.188 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến ngày tất toán. Ông D yêu cầu xem xét lại lãi suất của Ngân hàng cho vay. Hội đồng xét xử xét thấy, do ông D, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ trên thành nợ quá hạn và buộc ông D, bà H1 phải trả lãi theo Hợp đồng tín dụng là 9,8%/năm cố định trong 12 tháng đầu; nợ lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn và 10% đối với lãi chậm trả. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông D, bà H1 phải trả là phù hợp với quy định về lãi và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng mà các bên đã thỏa thuận cùng nhau tự nguyện ký kết, phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Về lãi suất tiếp tục, Ngân hàng yêu cầu tính kể từ ngày 09/8/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi ông D, bà H1 thanh toán xong khoản nợ. Theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thể hiện: “...kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”. Từ quy định nêu trên, yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở nên được chấp nhận.

[3.3] Về hợp đồng thế chấp và tài sản thế chấp:

Ông D, bà H1 có ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ gồm: số REF1928800071/HDTC/SMA-TTD ngày 15/10/2019 để xử lý thu hồi nợ là xe ô tô biển số: 69A-070.72, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, số khung 3GS5K2465740, số máy 2GD0722597, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014696 do phòng C1 Công an tỉnh C cấp ngày 15/10/2019 cho ông Tạ Trường D. Trường hợp ông D, bà H1 không thanh toán khoản nợ theo hợp đồng nêu trên thì tài sản thế chấp được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những phân tích trên, yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi toàn bộ tài sản theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để bảo đảm cho khoản vay là có cơ sở.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 13, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông D, bà H1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 33.614.106 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Cắn cứ các điều 299, 303, 319, 463, 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 13, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

1.1. Buộc ông Tạ Trường D và bà Giang Mỹ H1 cùng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền vốn và lãi tính đến ngày 08/8/2024 là 740.352.650 đồng (bảy trăm bốn mươi triệu ba trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi đồng). Trong đó, hợp đồng tín dụng số vốn là 496.813.982 đồng, lãi suất trong hạn 152.133.480 đồng, lãi suất quá hạn 91.405.188 đồng và đối với thẻ tín dụng nợ tổng vốn là 12.344.408 đồng, lãi quá hạn là 15.530.115 đồng.

Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 08/8/2024, thì kể từ ngày tiếp theo là ngày 09/8/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

1.2. Trường hợp ông Tạ Trường D và bà Giang Mỹ H1 không thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi xe ô tô biển số: 69A-070.72, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, số khung 3GS5K2465740, số máy 2GD0722597, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014696 do phòng C1 Công an tỉnh C cấp ngày 15/10/2019 cho ông Tạ Trường D.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Ông Tạ Trường D và bà Giang Mỹ H1 phải chịu số tiền 33.614.106 đồng (ba mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn một trăm lẻ sáu đồng), (chưa nộp).

2.2. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã nộp tạm ứng số tiền là 16.565.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001508 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Ngọc Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 236/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngân hàng Đông Nam Á
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger