|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 236/2024/DS-PT Ngày: 09-5-2024 “V/v tranh chấp dân sự- hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Minh Tùng; |
| Các Thẩm phán: | Ông Ngô Tấn Lợi. |
| Bà Nguyễn Thị Vĩnh. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp dân sự- hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2023/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 263/2021/QĐ-PT ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1975; Địa chỉ cư trú: Số C, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyền G, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Số B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ liên lạc: Số E, Đ, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền chị Nguyễn Thị Tuyền G là anh Trần Quốc Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: số D, Lô B chung cư T, khu phố B, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2024.
- Người kháng cáo: chị Nguyễn Thị Hồng P là nguyên đơn.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, Biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ ngày; biên bản hòa giải và tại phiên tòa chị P trình bày:
Vào ngày 16/5/2022, chị G có nhờ chị P chỉ dùm chị T gần nhà để chị G vay số tiền 400.000.000 đồng và chị P có cho chị G vay thêm số tiền 140.000.000 đồng, tổng cộng là 540.000.000 đồng, chị G đã trả cho chị T số tiền 400.000.000 đồng, còn 140.000.000 đồng của chị P chị G không trả, khi vay chị G nói bán bò xong sẽ trả, khi bán bò xong chị G không trả.
Theo đơn khởi kiện chị P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò giải quyết: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyền G trả số tiền vay gốc là 140.000.000 đồng và thanh toán số tiền lãi là 1%/tháng, tính lãi từ ngày 30/5/2022 đến ngày 30/7/2023 là 19.600.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 159.600.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
Tại biên bản hòa giải ngày 20/10/2023 chị P yêu cầu chị Nguyễn Thị Tuyền G trả cho chị số tiền vay gốc là 53.000.000đồng và tiền lãi là 14.000.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 67.000.000 đồng (Sáu mươi bảy triệu đồng).
Do chị G không đồng ý theo biên bản hòa giải ngày 20/10/2023. Nay chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện. Buộc chị Nguyễn Thị Tuyền G trả số tiền vay gốc là 140.000.000 đồng và thanh toán số tiền lãi là 1%/tháng, tính lãi từ ngày 30/5/2022 đến ngày 30/7/2023 là 19.600.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 159.600.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là biên nhận ngày 16/4/2022 (bản chính) có chữ ký của chị G và tin nhắn từ zalo.
Tại biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Thị Tuyền G trình bày:
Ngày 16/4/2020 chị G có vay của chị Nguyễn Thị Hồng P số tiền 150.000.000 đồng có làm biên nhận vay tiền, đến này 20/6/2020 chị G đã trả đủ số tiền gốc 150.000.000 đồng và lãi cho chị P có ký tên xác nhận từng đợt chị G trả tiền nhưng hiện tại chị P lại gửi đơn khởi kiện yêu cầu chị G trả số tiền gốc là 140.000.000 đồng và tiền lãi là 19.600.000 đồng tổng cộng 159.600.000 đồng, chị P xuất trình biên nhận cho Tòa án là ghi ngày 16/4/2022, nhưng năm 2022 bị sửa.
Ngày 20/10/2023 chị G được Tòa án triệu tập lên để giải quyết tranh chấp giữa chị G và chị P. Qua động viên của Thẩm phán trong buổi hòa giải thì chị G đồng ý trả cho chị P số tiền vốn là 53.000.000 đồng và tiền lãi là 14.000.000 đồng. Tuy nhiên sau khi hòa giải xong về kiểm tra lại thì phát hiện khi đưa ra tài liệu chứng minh việc chị G vay tiền chị P thì chị P đã dùng dụng cụ tẩy xóa những phần chị G trả tiền, biên nhận chị G mượn nợ là 01 đôi giấy gồm 02 trang, có đầy đủ thời gian và chữ ký khi chị P nhận tiền, nhưng khi chị P cung cấp chứng cứ lên Tòa thì chỉ còn 01 trang kèm những dấu vết thay tẩy xóa, thay đổi và mất đi những dữ liệu chứng minh chị G đã trả tiền. Ngày tháng năm và số tiền trong biên nhận không đúng với lời trình bày của chị P trong đơn khởi kiện.
Đối với số tiền vay chị P cho rằng chị G vay của chị T là một khoản tiền khác và chị G đã trả cho chị T xong, không có liên quan gì trong vụ án này. Nay chi G không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của chị P.
3. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng P.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 7.980.000đồng (Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 3.990.000đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003810 ngày 02 tháng 10 năm 2023, chị P còn phải nộp số tiền 3.990.000đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo.
4. Sau khi xét xử sơ thẩm, chị P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không đồng ý với bản án sơ thẩm vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn đồng ý với bản án sơ thẩm, không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Nguyễn Thị Hồng P yêu cầu chị Tuyền G trả số tiền lãi vay và lãi suất phát sinh nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự- Hợp vay tài sản” là phù hợp với quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, chị P không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T1 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng P; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
- Theo đơn khởi kiện chị P xác định ngày 16/5/2022 có cho chị G vay số tiền 140.000.000đồng. Từ khi vay đến nay chị G chưa trả vốn và lãi, chị P xuất trình biên nhận có nội dung “ Em có nhận của anh chị 5 Tùng 150 triệu ngày 16/4/2022, phía dưới biên nhận có ghi chữ “G” và “ Ng Thị Tuyền G1”. Phần năm 2022 có dấu sửa.
- Xét chứng cứ do chị P xuất xuất trình là biên nhận bản chính có nội dung “ Em có nhận của anh chị 5 Tùng 150 triệu ngày 16/4/2022, phía dưới biên nhận có ghi chữ “G1” và “ Ng Thị Tuyền G1”. Phần năm 2022 có dấu sửa, phía dưới biên nhận có nhiều con số, nội dung không rõ ràng, ngày cho vay và số tiền theo đơn khởi kiện không trùng khớp với biên nhận.
Mặt khác, chị P không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho việc yêu cầu khời kiện của chị là có căn cứ.
Tại phiên tòa, chị G1 cũng không thừa nhận là có vay của chị P số tiền 140.000.000đồng vào ngày 16/5/2022, cũng không có sửa phần năm 2022 của biên nhận ngày 16/5/2022.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng P.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên chị Nguyễn Thị Hồng P phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với việc chị P khai nại số tiền vay này là chị G1 vay của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy việc vay tiền giữa chị G1 và chị T không liên quan đến nội dung khởi kiện của chị P. Nếu có căn cứ chị P có quyền kiện chị G1 và chị T bằng vụ kiện dân sự khác.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 Điều 38; Điều 148, khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 48- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hồng P;
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 89/2023/DS-ST ngày 23/11/2023 của Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò;
* Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng P.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 7.980.000đồng (Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 3.990.000đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003810 ngày 02 tháng 10 năm 2023, chị P còn phải nộp số tiền 3.990.000đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
-
Về án phí phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003652 ngày 05/3/2024 của Chi cục thi hành án huyện Lấp Vò.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 236/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự- hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 236/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự- hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
