Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/HS-PT

Ngày 06 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Lê Bửu Thiện;

Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến;

Ông Trần Vĩnh Yên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Hữu Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc O (và đồng phạm); do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc O (và đồng phạm) đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 179/2023/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1983, tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: số F, tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Vũ Thị Kim L, sinh năm 1958; có vợ Huỳnh Phi P1, sinh năm 1985; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: 01. Ngày 27/11/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) tuyên phạt 06 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 112/2014/HSST. Ngày 24/12/2018, chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/7/2023 cho đến nay.

  1. Lê Thị Ngọc Q, sinh năm 1984, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố N, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T, sinh năm 1950 và bà Châu Thị N, sinh năm 1952; có chồng là Võ Công T1, sinh năm 1974 (đã ly hôn); có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/7/2023 cho đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị; Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Vào khoảng 14 giờ ngày 25/6/2023, Lê Thị Ngọc Q, Đàm Thiên L1, Nguyễn Thị Thúy A, Nguyễn Kim D, Trương Thị Tuyết N1, Nguyễn Thị Thùy L2 đến nhà Nguyễn Ngọc O, tại số F, tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai chơi và sau đó cùng nhau chơi đánh bạc bằng hình thức đánh bài “cào nổ”, thắng thua bằng tiền, mỗi ván đặt số tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, do Q và N1 làm cái. Quá trình đánh bạc không có người đứng ra tổ chức hay thu tiền xâu, nếu ai thắng nhiều sẽ bỏ tiền ra mua nước uống và đồ ăn cho người chơi khác.

Hình thức chơi bài cào nổ như sau: Sử dụng bộ bài tây 52 lá, người làm cái sẽ cầm bài chia cho mỗi người 02 lá, còn lại úp (gọi là bài tỳ để kéo bài), ai là người được người làm cái chia bài đầu tiên thì sẽ được kéo (bốc bài) đầu tiên. Các lá bài sẽ được tính thành nút (điểm), trong đó các lá bài bồi, đầm, già, 10 tương đương với 10 điểm (10 nút), lá át (xì) thì được tính 01 điểm, cứ như vậy mỗi người được bốc bài 01 lần (hoặc có thể không cần bốc cho qua lượt) nếu đủ từ 04-09 điểm (nút). Người làm cái bốc bài sau cùng, là người được phép mở bài của các người chơi để so sánh với bài của mình, nếu bài của người làm cái lớn hơn bài của người chơi (tổng số điểm nằm trong khoản từ 04 - 09 điểm) thì người làm cái sẽ thắng (ăn) hết số tiền mà mỗi người chơi đã đặt cược, người còn lại nếu người chơi có bài lớn hơn bài của cái thì sẽ thắng (ăn) tiền của người làm cái với số tiền bằng với tiền người chơi đã đặt cược. Ngoài ra, còn có các trường hợp điểm hai lá bài cộng lại là 8; 18; 9; 19 thì được tính là 8; 9 điểm gọi là “nổ”; còn ba lá bài cộng lại là 10; 20; 30 thì được tính là 00 điểm là bài bé nhất, các điểm 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8 tính tương tự.

Các bị cáo O, Q, L1, A, D, N1 và L2 chơi đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 3.800.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 đĩa sứ, 01 cái mền vải.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Tổng số tiền mà các bị cáo tham gia đánh bạc là 17.820.000 đồng (mười bảy triệu, tám trăm hai mươi ngàn đồng).

  • Bị cáo Lê Thị Ngọc Q mang theo 15.000.000 đồng, khai dùng 7.400.000 đồng để đánh bạc, mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, Q làm cái được khoảng 10 ván. Quá trình chơi thua số tiền 2.200.000 đồng. Tổng số tiền Q khai dùng đánh bạc là 7.400.000 đồng.
  • Trương Thị Tuyết N1 mang theo 3.200.000 đồng dùng hết để đánh bạc, tham gia chơi mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, làm cái được khoảng 4 ván. Quá trình chơi thua số tiền 400.000 đồng. Tổng số tiền N1 dùng đánh bạc là 3.200.000 đồng.
  • Nguyễn Thị Thùy L2 mang theo 1.900.000 đồng dùng hết để đánh bạc, tham gia chơi mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, không làm cái ván nào. Quá trình chơi L2 thắng được số tiền 900.000 đồng. Tổng số tiền L2 dùng váo đánh bạc là 3.800.000 đồng.
  • Nguyễn Kim D mang theo 1.300.000 đồng, dùng hết để đánh bạc, mỗi ván đặt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, không làm cái ván nào. Quá trình chơi thắng được số tiền 1.500.000 đồng. Tổng số tiền D dùng đánh bạc là 2.500.000 đồng.
  • Đàm Thiên L1 mang theo 2.300.000 đồng dùng hết để chơi đánh bạc, tham gia chơi mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 300.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, không làm cái ván nào. Quá trình chơi thua số tiền 400.000 đồng. Tổng số tiền L1 dùng đánh bạc là 2.300.000 đồng.
  • Nguyễn Ngọc O mang theo 200.000 đồng dùng hết để đánh bạc, tham gia chơi mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, không làm cái ván nào. Quá trình chơi thắng được số tiền 600.000. Tổng số tiền O dùng để đánh bạc là 800.000 đồng.
  • Nguyễn Thị Thúy A mang theo 700.000 đồng dùng hết để chơi đánh bạc, tham gia chơi mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, không nhớ rõ chơi được bao nhiêu ván, không làm cái ván nào, quá trình chơi không thắng, không thua. Tổng số tiền A dùng đánh bạc là 700.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 165/CT-VKS-HS ngày 27/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Oai, Lê Thị Ngọc Quy, Trương Thị Tuyết Như, Đàm Thiên Lý, Nguyễn Thị Thùy Linh, Nguyễn Kim Dung và Nguyễn Thị Thúy An về tội: “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 179/2023/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, đã Quyết định:

*Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc O phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc O 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

*Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Ngọc Quy phạm t “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc Q 06 (sáu) tháng Tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

  • Ngày 18 tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Ngọc O kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • Ngày 22 tháng 12 năm 2023, bị cáo Lê Thị Ngọc Q kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu được hưởng hình phạt không phải hình phạt tù.

4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật; tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới thể hiện gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/6/2023, tại nhà bị cáo Nguyễn Ngọc O, tại số nhà F, tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Ngọc O, Lê Thị Ngọc Q, Đàm Thiên L1, Nguyễn Thị Thúy A, Nguyễn Kim D, Trương Thị Tuyết N1 và Nguyễn Thị Thùy L2 đang cùng nhau đánh bài bằng hình thức cào nổ, thắng, thua bằng tiền, mỗi ván đặt số tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng, do Q và N1 làm cái; số tiền dùng để đánh bạc của bị cáo Lê Thị Ngọc Q 7.400.000 đồng (mang theo 15.000.000 đồng), bị cáo Trương Thị Tuyết N1 3.200.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Thùy L2 3.800.000 đồng, bị cáo Nguyễn Kim D 2.500.000 đồng, bị cáo Đàm Thiên L1 2.300.000 đồng, bị cáo Nguyễn Ngọc O 800.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Thúy A 700.000 đồng;

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Về kháng cáo:

2.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Cấp sơ thẩm xác định, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc O thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Các bị cáo Lê Thị Ngọc Q, Đàm Thiên L1, Nguyễn Thị Thúy A, Nguyễn Kim D, Trương Thị Tuyết N1 và Nguyễn Thị Thùy L2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo A mới sinh con (tháng 9/2023) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

* Sau khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc O, xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; bị cáo Lê Thị Ngọc Q kháng cáo bản án sơ thẩm, xin được hưởng hình phạt không phải hình phạt tù.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc O cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có con bị bệnh khuyết tật (có giấy xác nhận khuyết tật), vợ bị thất nghiệp không có việc làm, bị cáo là tài xế cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Đào Sỹ P2, bị cáo còn phải nuôi mẹ già, được Chính quyền địa phương xác nhận là đúng; bị cáo Lê Thị Ngọc Q cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã ly thân, phải nuôi 02 con được Chính quyền địa phương xác nhận là đúng.

2.3. Về hình phạt:

Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên; các bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo Nguyễn Ngọc O sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc; bị cáo Lê Thị Ngọc Q sử dụng số tiền 7.400.000 đồng để đánh bạc; các bị cáo O, Q cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hiện các bị cáo có nghề nghiệp ổn định và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo O, Q sửa bản án sơ thẩm do có nhiều tình tiết mới theo hướng xem xét chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc các bị cáo chấp hành theo quy định pháp luật.

[3] Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Ngọc O, Lê Thị Ngọc Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm đ, khoản 1, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc O, Lê Thị Ngọc Q; sửa về hình phạt do khách quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 179/2023/HS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc O phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc O 07 (bảy) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 06 tháng 6 năm 2024.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Giao bị cáo Nguyễn Ngọc O cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Ngọc Quy phạm t “Đánh bạc”.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc Q 06 (sáu) tháng Tù, cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 06 tháng 6 năm 2024.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Giao bị cáo Lê Thị Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Ngọc O, Lê Thị Ngọc Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh;
  • Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh;
  • Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Long Khánh;
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Long Khánh;
  • Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Khánh;
  • Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • Ủy ban nhân dân phường Xuân Bình (và phường Bàu Sen), thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai;
  • Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Lê Bửu Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HS-PT ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 236/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger