Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2025/HS-PT

Ngày: 10-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền
Các Thẩm phán:1/ Ông Phan Thanh Nguyễn
2/ Bà Nguyễn Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 184/2025/TLPT-HS, ngày 14/5/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh N do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1959, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số H đường Q, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: số H Quốc lộ A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng là ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 28/02/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trong vụ án có bị hại ông Lê Minh H không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu năm 2010, Nguyễn Thị Thanh N nhờ một người tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt làm giả 01 (một) Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số H.00347/2007 có chữ ký mang tên Huỳnh Văn B, hình dấu tròn Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở mang tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1959, số CMND: [...], địa chỉ: H Quốc Lộ A, phường B, quận B diện tích 272,2m2 tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 33; 01 (một) Tờ khai lệ phí trước bạ có chữ ký mang tên Phan Văn G và hình dấu tròn Chi cục thuế quận Bình Tân thể hiện cá nhân có tài sản trước bạ: Nguyễn Thị Thanh N, địa chỉ: H Quốc Lộ A, phường B, quận B, số chứng minh thư: [...] cấp ngày 09/11/2004 nơi cấp: Công an Thành phố H.

Đến ngày 13/01/2010, Nguyễn Thị Thanh N thỏa thuận với ông Lê Minh H ký hợp đồng (giấy tay) bán căn nhà có diện tích 272m² tại thửa số 11, tờ bản đồ số 33, với giá 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng). N yêu cầu ông H đưa trước số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và N sẽ đưa cho ông H Giấy chuyển nhượng Quyền sở hữu nhà ở, Quyền sử dụng đất ở số H.00347/2007 và Tờ khai Lệ phí trước bạ, số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) hẹn ngày làm thủ tục sang tên và giao nhà sẽ thanh toán. Ông H đã thanh toán cho N số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và N đã đưa Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà cho ông H, tới ngày hẹn để ký hợp đồng chuyển nhượng ông H không liên lạc được với N, nghi ngờ Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở do N đưa là giả nên ông H đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Công an. Quá trình điều tra, xác minh N bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 28/02/2024, N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đầu thú về hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định số 1018/KLGĐ-TT ngày 11/10/2012, của Phòng K1 Công an Thành phố H, giám định Tờ khai Lệ phí trước bạ tên Nguyễn Thị Thanh N kết luận:

  • Hình dấu tròn cần giám định có nội dung: “TỔNG CỤC THUẾ - CỤC T1 - CHI CỤC THUẾ Q. BÌNH TÂN" (đã nêu tại mục 2.1) khác nội dung với hình dấu tròn có nội dung: "CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CỤC T1 - CHI CỤC THUẾ Q. BÌNH TÂN" dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu từ M1 đến M4 (đã nêu tại mục 2.2) nên không tiến hành giám định.
  • Chữ ký cần giám định đứng tên Phan Văn G trên tài liệu ký hiệu (đã nêu tại mục 2.1) với chữ ký đứng tên Phan Văn G trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 (đã nêu tại mục 2.2) là chữ không do cùng một người ký ra.

Tại Bản kết luận giám định số 207/KLGĐ-TT ngày 24/02/2012, của Phòng K1 Công an Thành phố H, giám định 01 Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở của UBND quận B, để tên Nguyễn Thị Thanh N, thu giữ trong vụ án, kết luận:

  • Hình dấu tròn có nội dung: "U.B.N.D QUẬN BÌNH TÂN - TP HỒ CHÍ MINH" cần giám định trên tài liệu ký hiệu A (đã nêu ở mục 2.1) với hình dấu tròn có cùng nội dung dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M1 đến M6 (đã nêu ở mục 2.1) là không do cùng một con dấu đóng ra.
  • Chữ ký mang tên “Huỳnh Văn B” cần giám định trên tài liệu ký hiệu A (đã nêu ở mục 2.1) với chữ ký đồng chí Huỳnh Văn B – Phó chủ tịch UBND quận B dùng làm mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M1 đến M6 (đã nêu ở mục 2.2) là chữ không do cùng một người ký ra.

Tại Bản kết luận giám định số 4198/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:

  • Chữ viết nội dung (trừ chữ viết ở dòng “cấp ngày 8 tháng 02 năm 2009 tại: C2"); chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị Thanh N trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Thanh N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M6 (đã nêu ở mục II.2) do cùng một người ký, viết ra.
  • Không đủ cơ sở kết luận chữ viết ở dòng “cấp ngày 8 tháng 02 năm 2009 tại: C2" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) so với chữ viết của Nguyễn Thị Thanh N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M6 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người viết ra hay không.
  • Dấu vân tay bên phải trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) so với dấu vân tay ngón cái phải của Nguyễn Thị Thanh N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (đã nêu ở mục II.2) là dấu vân tay của cùng một người.
  • Dấu vân tay bên trái trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (đã nêu ở mục II.1) không đủ yếu tố giám định.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đã tác động gia đình bồi thường số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho bị hại Lê Minh H, bị hại không yêu cầu gì và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi đặt làm giả 01 (một) Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở, 01 Tờ khai Lệ phí trước bạ, thời điểm năm 2012, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B chỉ khởi tố vụ án hình sự về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, quy định tại khoản 1 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (nay là khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhưng không khởi tố bị can Nguyễn Thị Thanh N về tội danh trên. Đến nay, thời hiệu xử lý hình sự đối với tội "Làm giả con dấu, liệu của cơ quan, tổ chức" đã hết, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã ra quyết định đình chỉ điều tra đối với tội danh trên.

Đối với đối tượng tên K (không rõ lai lịch) là người làm giả cho N Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và 01 (một) Tờ khai Lệ phí trước bạ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm việc được sẽ điều tra xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 06 (sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/3/2025, bị cáo có đơn kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nộp đơn kháng cáo bổ sung xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Bị cáo xin xét xử vắng mặt, lý do đang bị bệnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Xét đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất cũng như mức độ của hậu quả đã xảy ra. Về kháng cáo xin được giảm hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo, xét bị cáo thực hiện hành vi với tính chất nghiêm trọng, mức án bị áp dụng không đủ điều kiện để cho hưởng án treo theo quy định. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Ngày 17/3/2025, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, đến ngày 27/3/2025, bị cáo có đơn kháng cáo về hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
  2. [2] Bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  3. [3] Trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án như phần nội dung bản án đã nêu. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng đầu năm 2010, bị cáo Nguyễn Thị Thanh N đã có hành vi nhờ một đối tượng tên K (không rõ lai lịch) đặt làm giả 01 (một) Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở địa chỉ số H Quốc Lộ A, phường B, quận B diện tích 272,2m² tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 33 mang tên Nguyễn Thị Thanh N; 01 (một) Tờ khai Lệ phí trước bạ có chữ ký mang tên Phan Văn G và hình dấu tròn Chi cục thuế quận B. Đến ngày 13/01/2010, bị cáo viết hợp đồng mua bán căn nhà trên với ông Lê Minh H giá 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) rồi đưa các giấy tờ giả trên để ông H tin tưởng giao trước cho bị cáo số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), sau đó nhận tiền bị cáo đã bỏ trốn, chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên của ông H. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (tương ứng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét số tiền bị cáo chiếm đoạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm tù. Trong đơn kháng cáo, bị cáo trình bày có người thân là liệt sỹ, bản thân bị bệnh, thường xuyên đau ốm (bị cáo đã nộp tài liệu chứng minh). Đây là tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo: Do bị cáo bị xét xử với mức hình phạt trên 03 năm, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã trốn truy nã nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận về yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

  1. [4] Lập luận trên đây là căn cứ để chấp nhận một phần ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về đề nghị không chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo.
  2. [5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thanh N và sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 05 (năm) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thanh Nguyễn Lê Thị Thương Huyền
Nguyễn Thị Bích Vân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

  • Số bản án: 236/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo nguyễn Thị Thanh N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger