Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 236/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Duy Bảo

Ông Nguyễn Hồ Cảnh.

Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm 247/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Phạm Thị H, sinh ngày 02/04/1989; hộ khẩu thường trú: xóm A, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; hiện sống và làm việc tại Đài Loan; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: anh Nguyễn Trọng D, sinh ngày 16/7/1977; địa chỉ: xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai (có chứng thực của Văn phòng K tại Đ), đơn trình bày ý kiến ngày 26/12/2024 của nguyên đơn - chị Phạm Thị H trình bày: chị H và anh Nguyễn Trọng D kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 02/05/2009 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đầm ấm. Từ năm 2022, chị H đi làm việc tại Đài Loan thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung. Hơn nữa, do khoảng cách địa lý xa xôi nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không có cách nào giải quyết. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Phạm Thị H yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị H ly hôn anh Nguyễn Trọng D.

Về con chung: chị H, anh D có 02 con chung là Nguyễn Trọng Thái B, sinh ngày 31/01/2010 và Nguyễn Trọng Tiến M, sinh ngày 19/8/2014; hiện các cháu đang sống cùng bố. Nếu ly hôn, chị H đề nghị giao 02 con cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H đồng ý cấp dưỡng nuôi con, mỗi người mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - anh Nguyễn Trọng D trình bày:

Anh D và chị H kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã K năm 2009 và vợ chồng chung sống hoà thuận. Năm 2022, vì cuộc sống gia đình khó khăn nên chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Nay chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tuy không muốn nhưng chị H cương quyết ly hôn nên anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/5/2025, anh Nguyễn Trọng D trình bày: về quan hệ hôn nhân, anh giữ nguyên ý kiến ở trên, nếu chị H vẫn kiên quyết ly hôn tôi thì anh đồng ý theo yêu cầu của chị H.

Về con chung: anh Nguyễn Trọng D thừa nhận vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Trọng Thái B, sinh năm 2010 và Nguyễn Trọng Tiến M, sinh năm 2014. Nếu chị H đề nghị giao 02 con chung cho anh nuôi thì phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung 6.000.000 đồng/ tháng đến khi các con đủ 18 tuổi. Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/5/2025, anh D giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và đồng ý đề nghị của chị H về việc cấp dưỡng nuôi con, mỗi người mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Trọng D không yêu cầu Toà án giải quyết.

Cháu Nguyễn Trọng Thái B và cháu Nguyễn Trọng Tiến M cho biết: bố mẹ đẻ các cháu là Nguyễn Trọng D, Phạm Thị H. Nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu xin ở cùng bố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã ban hành các quyết định và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2

Về nội dung: chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Trọng D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 02/05/2009 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân là hợp pháp. Tình cảm vợ chồng giữa H và anh D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng D; đề nghị giao 02 con chung là Nguyễn Trọng Thái B và Nguyễn Trọng Tiến M cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị H phải cấp dưỡng nuôi con, mỗi người mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung: miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền giải quyết:

Vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa nguyên đơn - chị Phạm Thị H và bị đơn - anh Nguyễn Trọng D, chị H và anh D đều có hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; nguyên đơn hiện đang sinh sống tại Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự

Quá trình giải quyết vụ án, chị H đang cư trú tại Đài Loan, đề nghị Tòa án không tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải vắng mặt, đồng thời xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp và tất cả các phiên toà; ủy quyền cho chị Lô Thị Lan H1, sinh năm 2002, nơi công tác: Công ty L và cộng sự (địa chỉ: số B, ngõ D, D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội) thay mặt chị nộp, nhận các văn bản, giấy tờ của Tòa án.

Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Phạm Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

3.1. Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/05/2009 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hợp pháp. Vợ chồng chị H phát sinh mâu thuẫn và ngày một trầm trọng từ khi chị H đi lao động tại nước ngoài, không thể hàn gắn, đoàn tụ. Nay chị H xin ly hôn nhưng anh D không mong muốn, nhưng không có biện pháp, hành động thiết thực hàn gắn tình cảm.

3

Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Trọng D đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Nguyễn Trọng D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

3.2. Về con chung: chị H và anh D có 02 con chung là Nguyễn Trọng Thái B, sinh ngày 31/01/2010 và Nguyễn Trọng Tiến M, sinh ngày 19/8/2014, đều đang sống cùng anh D. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H, trên cơ sở nguyện vọng của anh D và các con chung, theo đó: giao hai con chung cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi người mỗi tháng 1.500.000 đồng, kể từ tháng 6 năm 2025.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị H và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.

[5] Về án phí: chị Phạm Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; Điều 97, Điều 102, khoản 1 Điều 207, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng D.
  2. Về con chung: giao con chung là Nguyễn Trọng Thái B, sinh ngày 31/01/2010 và Nguyễn Trọng Tiến M, sinh ngày 19/8/2014 cho anh Nguyễn Trọng D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H phải cấp dưỡng nuôi Nguyễn Trọng T, Nguyễn Trọng Tiến Minh M cho anh Nguyễn Trọng D, mỗi tháng mỗi con 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng, kể từ tháng 6 năm 2025 đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Chị Phạm Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

4

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013959 ngày 25 tháng 01 năm 2025.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Khánh Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hồ Ngọc Tiếp

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 236/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger