Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 236/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/6/2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tính

Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/4/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2743/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Như T, sinh năm 1980 (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: EN, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1985(Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: EN, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 60 B, L, Australia.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và B tự khai, nguyên đơn ông Lê Như T trình bày: Ông và bà Lê Thị H quen biết, tìm hiểu nhau và nảy sinh tình cảm nên quyết định tổ chức cưới hỏi và đang ký kết hôn năm 2004, quá trình chung sống ông và bà H có hai con chung Lê Như Đ, sinh năm 2005 và Lê Như T1, sinh năm 2007. Đến năm 2016 ông và bà H phát sinh mâu thuẫn nên đầu năm 2017 hai người quyết định ly hôn. Sau khoảng thời gian ly hôn ông và bà H có qua lại với nhau vì con, nhận thấy vẫn còn tình cảm nên ngày 03/7/2023 ông và bà H quyết định đăng ký kết hôn lại theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91, ngày 03/7/2023 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, rồi xảy ra nhiều mâu thuẫn, từ tháng 6/2024 đến nay bà H xuất cảnh sang Úc sinh sống làm việc, còn ông sống cùng các con tại Việt Nam. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, cả hai không còn tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân nên ông yêu cầu được ly hôn với Lê Thị H.

Về con chung có hai con: Lê Như Đ, sinh ngày 21/8/2005 và Lê Như T1, sinh ngày 24/4/2007. Cả hai đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ông xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.

Tại Bản tự khai, bị đơn bà Lê Thị H trình bày: Bà đồng ý ly hôn với ông Lê Như T vì hai bên sống xa cách, tình cảm không còn.

Về con chung có hai con: Lê Như Đ, sinh ngày 21/8/2005 và Lê Như T1, sinh ngày 24/4/2007. Cả hai đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà xin được vắng mặt khi Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ông Lê Như T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị H, bà H đang cư trú tại Australia nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Lê Như T và bà Lê Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 478 Bộ luật tố Tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà H.

[2] Về áp dụng luật nội dung: Ông Lê Như T và bà Lê Thị H có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91, ngày 03/7/2023 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp nên là hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Như T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, rồi xảy ra nhiều mâu thuẫn, trầm trọng nhất kể từ năm 6/2024 đến nay. Bản thân bà H đang sinh sống tại Úc, còn ông T sống cùng các con tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh - Việt Nam. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người không còn, cả hai không còn tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân nên ông Lê Như T yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị H là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Lê Như Đ, sinh ngày 21/8/2005 và Lê Như T1, sinh ngày 24/4/2007, đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên có cơ sở để Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Ông Lê Như T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, khoản 3 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các điều 9, 51, 56, 57, 121,127 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Như T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Như T được ly hôn với bà Lê Thị H.
    2. Về con chung: Lê Như Đ, sinh ngày 21/8/2005 và Lê Như T1, sinh ngày 24/4/2007. Cả hai con đã đủ tuổi trưởng thành.
    3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Như T chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0070356 ngày 10/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM;
  • - UBND xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Minh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 236/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông và bà Lê Thị H quen biết, tìm hiểu nhau và nảy sinh tình cảm nên quyết định tổ chức cưới hỏi và đang ký kết hôn năm 2004, quá trình chung sống ông và bà H có hai con chung Lê Như Đ, sinh năm 2005 và Lê Như T1, sinh năm 2007. Đến năm 2016 ông và bà H phát sinh mâu thuẩn nên đầu năm 2017 hai người quyết định ly hôn. Sau khoảng thời gian ly hôn ông và bà H có qua lại với nhau vì con, nhận thấy vẫn còn tình cảm nên ngày 03/7/2023 ông và bà H quyết định đăng ký kết hôn lại theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91, ngày 03/7/2023 do Uy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn hai người chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, rồi xảy ra nhiều mâu thuẫn, từ tháng 6/2024 đến nay bà H xuất cảnh sang Úc sinh sống làm việc, còn ông sống cùng các con tại Việt Nam. Sau thời gian xa cách, tình cảm giữa hai người phai nhạt dần, cả hai không còn tiếng nói chung. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đã sống ly thân nên ông yêu cầu được ly hôn với Lê Thị Н.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger