|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
|
Bản án số: 236/2025/DS-ST Ngày 12 – 11 – 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hiển
Ông Thái Hoàng Bo
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Ngô Trà My – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị C, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: ấp T, xã L, tỉnh Cà Mau;
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Hữu T, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: ấp A, xã Đ, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 4 năm 2025), (vắng mặt);
- Bị đơn:
- Ông Trần Văn K; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Phan Thị L; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Ông Trần Văn T1; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Kiều H, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án bà Phan Thị C và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 25/7/2024 âm lịch, ông K, bà L, ông T1 và bà H xây dựng nhà thiếu tiền nên mượn của bà C số tiền 365.000.000 đồng, không tính lãi suất. Phía ông K, bà L, ông T1 và bà H có ký tờ giao kèo thế chấp tài sản diện tích 14.000m². Hai bên cam kết đến ngày 08/8/2024 không trả tiền đủ thì gia đình ông K giao đất cho bà C canh tác. Đến ngày 25/3/2025, bà C đến nhà yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nhưng phía ông K không trả tiền và xảy ra cự cãi.
Ngoài ra, bà C xác định, trong số tiền trên bà cho mượn nhiều lần, đến ngày 25/7/2024 âm lịch mới chốt cộng lại tổng nợ là 365.000.000 đồng. Do có mối quan hệ quen biết, thân thiết nên bà tin tưởng cho mượn tiền mà không làm biên nhận, trước đây mượn cũng có trả, sau này mượn nhiều lần không trả thì bà C đến nhà yêu cầu viết lại biên nhận tổng vào ngày 25/7/2024 âm lịch như trên. Các lần giao tiền đều giao trực tiếp cho ông T1, bà H nhận tiền mặt, có một lần giao số tiền 50.000.000 đồng tại nhà bà L thì có bà L, ông K chứng kiến và H đếm tiền. Bà L và ông K gặp bà nhiều lần cũng đều nói số tiền này ông bà cùng ông T1, bà H mượn để xây cất nhà.
Thời điểm viết tờ giao kèo ngày 25/7/2024 âm lịch chỉ có bà, bà L, ông K, bà H, ông T1. Chữ viết trong biên nhận là do bà H trực tiếp viết, sau đó đọc lại cho những người có mặt nghe và đồng ý ký tên. Trong tổng số tiền 365.000.000 đồng có 10.000.000 đồng của con gái bà là Nguyễn Thị Phương X ra cho mượn, nhưng vào thời điểm làm tờ giao kèo thì bà đã xuất tiền ra trả cho con gái bà xong nên khoản nợ 365.000.000 đồng là của một mình bà. Trong xuyên suốt quá trình cho mượn tiền bà đều không tính lãi. Đối với việc thế chấp đất, mặc dù ghi trong giấy thế chấp nhưng thực tế bà không nhận giấy tờ quyền sử dụng đất cũng như không vào canh tác đất nên bà không yêu cầu gì về việc thế chấp mà chỉ yêu cầu trả số tiền bà cho mượn.
Nay bà Phan Thị C yêu cầu ông Trần Văn K, bà Phan Thị L, ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Kiều H cùng có trách nhiệm trả số tiền 365.000.000 đồng.
* Bà Phan Thị L và ông Trần Văn K trình bày:
Ông bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà C đồng thời xác định không vay tiền hay nhận tiền từ bà C. Đối với giấy giao kèo Tòa án cho ông, bà xem ông, bà xác định không có ký tên vào.
Bà L đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký viết tên của bà và ông K trong tờ giao kèo theo quy định pháp luật. Nếu là chữ ký viết tên của bà thì bà đồng ý chịu trách nhiệm trước pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị và đề nghị Hội đồng xét xử: Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C về việc yêu cầu buộc ông Trần Văn K, bà Phan Thị L, ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Kiều H cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà C tổng số tiền 365.000.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Trần Văn K, bà Phan Thị L có yêu cầu xin xét xử vắng mặt; ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Kiều H đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà C khởi kiện yêu cầu ông K, bà L, ông T1, bà H trả lại số tiền đã cho mượn. Đối với ông K, bà L có địa chỉ tại ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau. Đối với ông T1, bà H, Tòa án có thu thập xác minh địa chỉ ở ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau, kết quả xác minh thể hiện chỉ có bà Hoa đăng K1 hộ khẩu tại địa chỉ này, tuy nhiên bà H hiện không có mặt tại địa phương, ông T1 cũng không có sinh sống tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, bà L cho biết ông T1, bà H về địa chỉ ấp T, xã T sinh sống hơn 2 năm, sau đó về nhà bà sinh sống khoảng 1 năm thì bỏ đi làm không rõ địa chỉ mới. Lời khai này phù hợp với lời khai của bà C cung cấp tờ giao kèo thế chấp tài sản thể hiện ông T1, bà H có địa chỉ tại ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau và tờ giao kèo cũng được lập tại địa chỉ này. Do đó, có đủ cở sở địa chỉ cuối cùng của ông T1 bà H là ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tranh chấp hợp đồng dân sự cụ thể hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.
[3] Xét nội dung vụ án thấy rằng:
[3.1] Bà C cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là “Tờ dao kèo thế chấp tài sảng” thể hiện: “ ...vợ chồng tôi và con tôi dâu tôi, cùng thống nhất thế chấp 14 ngàn mét vuông đất nui tôm và một cái nhà mới cất, tổng diện tích Hết thế chấp cho bà Phan thị C, người ở ấp T, xã T huyện C với số tiền, 365.000.000 Ba trăm sáu mươi lăm triệu ...”
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, đối với ông K1 và bà L đều cho rằng không vay tiền của bà C cũng như không ký vào bất kỳ giấy tờ nào vay tiền với bà C. Đối với ông T1, bà H không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quá trình giải quyết cũng chứng minh được ông T1, bà H rời địa phương ấp T, xã T mà không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn là cố tình giấu địa chỉ. Mặc dù ông K1, bà L đều liên tục cho rằng không ký tên vào “Tờ dao kèo thế chấp tài sảng” và bà L cũng có yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký chữ viết của bà và ông K1 trong văn bản này để chứnhg minh chữ ký và chữ viết không phải của bà và ông K1. Tuy nhiên tại Kết luận giám định số 633/KL-KTHS ngày 28/10/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện:
“1. Chữ ký “Kỷ” dưới mục “Cha” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký “Kỷ” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký ra.,
2. Chữ ký “Liết”, chữ viết họ tên “Phan Thi L1” dưới mục “Mẹ” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Phan Thị L (Phan Thi L1) trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 là do cùng một người ký, viết ra.
3. Chữ ký “Liết”, chữ viết họ tên “Phan Thi L1” dưới mục “Mẹ” trên trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết có nội dung: “Tôi đã bien bãn và xát địn là đúng ý kiến trình bày cũa tôi” tren tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3 là do cùng một người ký, viết rả”
Ngoài ra, tại Kết luận giám định số 133/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phòng K2 công an tỉnh C thể hiện:
“3. Chữ ký dạng chữ viết “HOA” và chữ viết họ tên “Nguyễn Kiều H”; “Nguyễn Kiều HOA” dưới từ “vợ” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ viết, chữ viết Nguyễn Kiều H trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M4 đến M9) là do cùng một người ký và viết ra.
4. Chữ viết (Không kể chữ viết “liết Phan thi LI”; “Tẹt Trần Văn T1” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ viết Nguyễn Kiều H trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M4 đến M9) là do cùng một người viết ra.”
[3.2] Từ kết quả giám định cho thấy, ông K1, bà L1, bà H có ký tên vào “Tờ dao kèo thế chấp tài sảng”, nội dung cũng thể hiện bị đơn có vay tiền của bà C. Riêng đối với ông T1, mặc dù không thu được mẫu so sánh và không thể tiến hành giám định. Tuy nhiên, việc bà H có ký tên vay tiền là thực tế có xảy ra, nội dung văn bản thể hiện ông T1 có vay tiền bà C.
Từ những phân tích trên, cần buộc ông K1, bà L1, ông T1, bà H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà C tổng số tiền 365.000.000 đồng.
[4] Đối với việc trong “Tờ dao kèo thế chấp tài sảng” các bên có đề cập đến việc thế chấp tài sản là phần đất 14.000m², tuy nhiên nguyên đơn xác định không quản lý phần đất này và từ khi vay tiền bị đơn cũng không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gì cho nguyên đơn quản lý. Do đó, thực tế giữa các bên không thế chấp tài sản gì cho nhau nên không đặt ra xem xét giải quyết là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn (365.000.000 đồng x 5%). Tuy nhiên, ông K1, bà L1 thuộc trường hợp người cao tuổi có yêu cầu miễn án phí nên được xét miễn theo quy định. Ông T1, bà H phải liên đới chịu án phí số tiền 9.125.000 đồng.
[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu số tiền chi phí giám định do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Ông K1, bà L1, ông T1, bà H có trách nhiệm liên đới chịu số tiền 8.351.000 đồng để hoàn trả lại cho bà C.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị C.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Kiều H phải liên đới chịu số tiền 9.125.000 đồng (chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng), (chưa nộp).
- Bà Phan Thị L và ông Trần Văn K được miễn án phí.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn K, bà Phan Thị L, ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Kiều H có nghĩa vụ liên đới chịu chi phí giám định số tiền 8.351.000 đồng để hoàn trả lại cho bà Phan Thị C.
Buộc ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Kiều H, ông Trần Văn K, bà Phan Thị L cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phan Thị C số tiền 365.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 236/2025/DS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 236/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giám định chữ ký trong biên nhận, chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
