|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 236/2024/HS-ST Ngày: 07 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Quyên |
| Thẩm phán: | Bà Lê Thị Ký |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Chi |
| Bà Nguyễn Việt Hoài | |
| Bà Trần Thị Thu Vân |
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Văn Nhật - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 242/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2024/QĐXX-ST ngày 24/10/2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1993, tại Đồng Nai; HKTT: tổ F, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Như trên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị Kiều S, sinh năm 1968; Anh em ruột có 2 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ bị cáo: Lê Thị N, sinh năm 1991, có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/10/2010, bị Toà án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 04 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ ngày 13/10/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh số 455/LTG-CSHS-Đ1 ngày 19/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Nguyễn Trọng T – Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số G, tổ F, phường L, thành phố B, Đồng Nai.
- - Bị hại: Anh Đặng Hồng T1, sinh năm 1995
- Địa chỉ: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Huỳnh Văn T2, sinh năm 1995
- Chị Nguyễn Thị Khánh H, sinh năm 1996
- Anh Trương Thanh D, sinh năm 1995
- Anh Phạm Hồng N1, sinh năm 1995
- Ông Phạm Phi L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ: Số G, tổ A, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số B, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số D, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: D, Trung Mỹ Tây B, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt bị cáo, luật sư, các anh T2, N1, L; các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Hồng T1, sinh năm 1995, thường trú tại số E, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và chị Nguyễn Thị Khánh H, sinh năm 1996, thường trú tại số C, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có mối quan hệ yêu đương đến tháng 08/2018 thì chấm dứt. Sau đó chị H có quan hệ tình cảm với anh Phạm Phi L, sinh năm 1995, thường trú tại số B, ấp M, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/9/2018, L điều khiển xe môtô chở chị H đến khách sạn Đ để phục vụ đám cưới. Chị H gửi điện thoại di động cho L giữ thì nhận được tin nhắn của T1 với nội dung đòi lại số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) chị H đã mượn của T1, nên L nhắn tin hẹn đến siêu thị L3 tại phường L, thành phố B để giải quyết khoản nợ của H. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T1 rủ Trương Thanh D, sinh năm 1995, thường trú tại số B, khu phố H, phường T, thành phố B; Phạm Hồng N1, sinh năm 1995, thường trú tại số D, khu phố F, phường L đến cổng siêu thị L3 để gặp L. Còn L thì gọi điện thoại nói với anh Huỳnh Văn T2, sinh năm 1995, thường trú tổ B, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh và Nguyễn Văn B cùng đến siêu thị L3 với mục đích, nếu xảy ra đánh nhau thì B và T2 sẽ giúp L đánh lại nhóm của T1. Khi gặp nhau tại cổng siêu thị L3, L nói chuyện với T1 và D thì xảy ra xô xát. D xông vào dùng dây thắt lưng đánh 01 cái vào vai của L thì bị L dùng tay đánh lại và T1 cũng lao vào dùng tay đánh L (không gây thương tích).
Lút này B và T2 đi đến nhìn thấy T1 và D đang đánh L thì B và T2 lao vào đánh D và T1. Lúc này, có một người bạn của D rút thẻ ngành Công an ra và yêu cầu dừng lại không đánh nhau nữa nhưng hai bên vẫn tiếp tục đánh nhau.
Trong lúc 02 nhóm đang đánh nhau thì B lấy 01 con dao Thái Lan cán vàng dài khoảng 20cm đâm 01 nhát trúng vào ngực phải của T1 (đoạn gần xương sườn dưới nách) gây thủng cơ hoành, gây tràn máu màng phổi và rách màng ngoài tim. Sau đó T1 được D và N1 đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu kịp thời nên không tử vong mà bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 51%. Sau khi gây án, Nguyễn Văn B vứt con dao tại hiện trường và bỏ trốn đến ngày 13/10/2023, Nguyễn Văn B đã đến Công an tỉnh Đ đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 15 giờ ngày 05/10/2018 tại siêu thị L4, QL1, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Công an tỉnh Đ đã thu thập các dấu vết như sau:
Tại vị trí tiếp giáp lối vào bãi đậu xe ôtô về hướng Nam cách cửa ra vào bãi xe máy 20m, cách mốc 27m ghi nhận vị trí bị hại bị các đối tượng gây thương tích (theo lời khai của nhân chứng).
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hiệu Piaggio Liberty biển số 70G1-362.44; Số máy M739M5018939, số khung RP8M73401EV118451 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 70G1-362.44 của Nguyễn Phi L1 mượn của chị Lương Thị Ngọc T3, sinh Năm 1990 (đã giao trả chủ sở hữu)
Đối với con dao Thái Lan cán vàng dài khoảng 20cm là hung khí Nguyễn Văn B dùng để gây án đã vứt tại hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0809/TgT/2018 ngày 23/10/2018 của Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận:
- Tổn thương thủng cơ hoành đã phẫu thuật khâu cơ hoành, hiện để lại xơ đáy phổi bên phải. Tỷ lệ: 30%;
- Vết thương thấu ngực phải gây tràn máu màng phổi bên phải đã được phẫu thuật, hiện vẫn còn tràn dịch màng phổi phải và tràn dịch rãnh liên thùy màng phổi phải. Tỷ lệ: 16%;
- Tổn thương rách màng ngoài tim đã phẫu thuật khâu màng ngoài tim, hiện kết quả tốt. Tỷ lệ: 15%;
- Vết thương ngực phải kích thước 5,5x0,2cm. Tỷ lệ: 02%;
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 51% (Năm mươi mốt phần trăm).
- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 1041/GĐHS/2018 ngày 17/12/2018 Giám định viên Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích của Đặng Hồng T1 như sau:
Vết thương ngực khoảng gian sườn V-VI trên đường nách trước khoảng 05cm bờ mép sắc gọn, bệnh nhân tức ngực khó thở. Tràn máu màng phổi, nhiều máu đen màng ngoài tim, kiểm tra thấy thủng màng tim khoảng 06mm, rách thanh mạc nhĩ phải, thủng cơ hoành 02 lỗ. Vết thương này của nạn nhân Đặng Hồng T1 là vết thương nguy hiểm đến tính mạng do tổn thương gây tràn máu màng ngoài tim dẫn đến chèn ép tim cấp, tràn máu màng phổi gây suy hô hấp cấp. Nạn nhân đã có dấu hiệu choáng do mất máu và suy hô hấp (đau ngực, khó thở, nhịp tim nhanh và huyết áp tăng), tuy nhiên do phẫu thuật kịp thời nên tình trạng choáng mất máu và chèn ép tim đã hồi phục không ảnh hưởng đến tính mạng nạn nhân.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị can Nguyễn Văn B đã bồi thường cho anh T1 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), anh T1 đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Cáo trạng số 208/CT-VKS-P2 ngày 27/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
- Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố và điều luật áp dụng đối với bị cáo.
- Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.
- Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại, được bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đầu thú. Xét đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa:
Thống nhất tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ của Viện kiểm sát đề nghị, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án nhẹ hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị.
Lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận, mong hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất có thể, để bị cáo còn về lo cho cha mẹ già và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về hành vi của bị cáo bị truy tố, tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ như kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 29/9/2018, tại khu vực trước siêu thị L4, thuộc khu phố C, phường L, thành phố B, sau khi được Phạm Phi L điện thoại rủ Nguyễn Văn B và Huỳnh Văn T2 để đánh nhóm của Đặng Hồng T1. Khi B và T2 đi đến nhìn thấy Trương Thanh D, Phạm Hồng N1 và Đặng Hồng T1 đã dùng dây lưng và dùng tay đánh nhau với Phạm Phi L thì Nguyễn Văn B đã lấy 01 con dao Thái Lan cán vàng dài khoảng 20cm đâm một nhát vào ngực phải của anh Đặng Hồng T1 gây thủng cơ hoành, tràn máu màng phổi và rách màng ngoài tim. Sau đó anh T1 được đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu kịp thời nên không tử vong. Hậu quả bị thương tích với tỷ lệ thương tật là 51%.
Hành vi của bị cáo chỉ xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày, bị cáo dùng dao Thái Lan đâm một nhát vào ngực phải của anh Đặng Hồng T1 dẫn đến bị hại bị thủng cơ hoành, tràn máu màng phổi và rách màng ngoài tim với tỷ lệ tổn thương cơ thể 51%. Hành vi của bị cáo dùng dao là hung khí nguyên hiểm đâm vào ngực của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể, việc bị hại không chết là do được cấp cứu kịp thời. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người” chưa đạt, với tình tiết định khung là có tính chất côn đồ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 15 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội danh theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
2.2. Đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kì ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, dẫn đến bị cáo thiếu kiềm chế bản thân đã vô cớ dùng dao đâm bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[3]. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:
3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường toàn bộ tiền điều trị thương tích và khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại làm đơn xin bải nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo chưa tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Xét đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
3.3 Về quyết định hình phạt: Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét bị cáo có 01 nhân thân bị xét xử về hành vi cướp tài sản để xem xét đưa ra một mức án phù hợp quy định pháp luật.
[4] Về phần bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[7] Quan điểm bào chữa của Luật sư cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Vấn đề khác: Đối với Phạm Phi L và Huỳnh Văn T2 không biết B dùng dao đâm Đặng Hồng T1 nên không đồng phạm với B về tội “Giết người”, nhưng có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” (theo Án lệ số 01/2016/AL), do thời hạn điều tra vụ án đã hết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định tách hành vi “Cố ý gây thương tích” để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Đặng Hồng T1 (bị hại trong vụ án), Trương Thanh D và Phạm Hồng N1 cũng có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự cộng cộng” quy định tại Điều 318 Bộ Luật hình sự (đối lập về tư cách tố tụng trong vụ án), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định tách hành vi gây rối trật tự công cộng của các đối tượng T1, D và N1 chuyển đến Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về áp dụng pháp luật: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/10/2023.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quyên |
Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội giết người
- Số bản án: 236/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Giết người
