Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 236/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/8/2024

V/v: "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Quyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Thanh Long.

2. Bà Nguyễn Thị Dung.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T; sinh năm: 1993 (có mặt).

Địa chỉ: thôn B, xã L, huyện P, Thừa Thiên Huế.

- Bị đơn: Anh Phùng Văn H; sinh năm: 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 12/10/2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày:

* Về quan hệ vợ chồng:

Chị với anh Phùng Văn H kết hôn vào năm 2010, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Ngày 03/11/2010, chị và anh H tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chuyển về sống chung với cha mẹ chồng tại thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Đời sống hôn nhân giữa chị và anh H hạnh phúc bình thường trong khoảng thời gian dài. Năm 2016, cha mẹ chồng chị cắt một phần đất trong thửa đất khai hoang, chưa đăng ký quyền sử dụng đất để vợ chồng xây dựng nhà ở riêng. Bắt đầu từ năm 2022 giữa chị và anh H phát sinh mâu thuẫn gay gắt. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh H vào tệ nạn đánh bạc. Anh tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề và thua bạc với số tiền khá lớn, làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế gia đình. Mặc dù không có nghề nghiệp ổn định, hằng ngày phải đi làm thuê, làm mướn với mức thu nhập ít ỏi, nhưng anh H vay mượn tiền của nhiều người để đánh bạc dẫn đến không có khả năng trả nợ. Với hy vọng anh H sẽ từ bỏ tệ nạn cờ bạc, chịu khó lao động để xây dựng lại kinh tế gia đình, chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh H không tham gia đánh bạc. Chị cố gắng lao động để kiếm tiền nuôi con, bán bò nghé để trả nợ thay cho anh H. Tuy nhiên, anh H không chịu lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng của chị, tiếp tục tham gia đánh bạc; mỗi lần uống rượu về anh H tìm cớ gây sự, chửi bới, đánh đập chị. Không chịu đựng được lối sống hư hỏng, gia trưởng, bạo hành gia đình của anh H, tháng 8/2023 chị đưa các con về nhà cha mẹ chị ở xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ở và chủ động sống ly thân với anh H. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H gọi điện đe doạ rằng, nếu chị quay về thì anh sẽ giết chị, làm cho mức độ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Từ tháng 8/2023 đến nay, vợ chồng chị sống mỗi người một nơi, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

* Về quan hệ con chung: Giữa chị và anh H có 02 người con chung là các cháu Phùng Thị Thu P; sinh ngày 30/10/2012 và cháu Phùng Hải N; sinh ngày 06/01/2016. Hiện tại sức khỏe, thể chất của các con đang phát triển bình thường, các cháu đang được chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu; không yêu cầu Toà án giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

* Về quan hệ tài sản: Tài sản chung của vợ chồng chỉ có ngôi nhà xây dựng trên đất của cha mẹ chồng nhưng chưa đăng ký quyền sử dụng đất. Ngôi nhà này hiện nay anh H đang quản lý sử dụng. Nếu ly hôn, chị không tranh chấp chia tài sản chung và nghĩa vụ tài sản đối với người khác nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn anh Phùng Văn H mặc dù đã được Tòa án thông qua chính quyền địa phương tống đạt trực tiếp Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để anh H gửi văn bản cho Toà án nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đến Tòa án tham gia tố tụng. Tuy nhiên, anh H từ chối, không nhận Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập. Các lần triệu tập tiếp theo cán bộ Tư pháp xã C, huyện P đến nơi cư trú tống đạt trực tiếp, nhưng anh H không có mặt tại nơi cư trú. Cha mẹ anh H là ông Phùng Đ, bà Đỗ Thị B tỏ thái độ không hợp tác, không chịu nhận thay cho anh H. Toà án đã nhiều lần liên lạc với anh H bằng điện thoại thông qua các số điện thoại anh H đang sử dụng do nguyên đơn cung cấp là 0862.749.912 và 0373.873.834 nhưng anh H hoặc không tiếp nhận cuộc gọi hoặc đã tiếp nhận cuộc gọi nhưng từ chối đến Toà án tham gia tố tụng và không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do vậy, Toà án đã phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành niêm yết công khai giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Toà án tại UBND xã C và nơi cư trú của bị đơn theo quy định của pháp luật. Mặc dù biết rõ Toà án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T nhưng anh H cố ý lẩn tránh, không đến Toà án tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án là đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Phùng Văn H cố ý lẩn tránh, không đến Tòa án tham gia tố tụng thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.

Về hướng giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình - 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh H. Về con chung: giao cháu Phùng Thị Thu P; sinh ngày 30/10/2012 và cháu Phùng Hải N; sinh ngày 06/01/2016 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; các đương sự không tranh chấp nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Xét về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Phùng Văn H đăng ký nơi cư trú tại thôn X, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Quá trình giải quyết vụ án, anh H biết rõ việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trịnh Thị T thông qua việc tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai văn bản tố tụng của Toà án, nhưng anh H cố ý lẩn tránh, không đến Toà án thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục chung. Bị đơn anh Phùng Văn H phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T với anh Phùng Văn H kết hôn vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương. Ngày 03/11/2010 chị T và anh H đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, các bên đều đáp ứng đầy đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; thẩm quyền đăng ký kết hôn và nghi thức tổ chức đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại các Điều 12, 14 Luật Hôn nhân và gia đình – 2000. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trịnh Thị T, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Là quan hệ vợ chồng, lẽ ra anh H và chị T phải có thái độ tôn trọng nhau, thương yêu, chung thủy, chăm sóc lẫn nhau và cùng nhau chia sẻ, gánh vác công việc chung để xây dựng đời sống hôn nhân hạnh phúc, tiến bộ. Tuy nhiên, theo nguyên đơn chị T trình bày, từ năm 2022 đến nay, giữa chị và anh H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh H tham gia đánh bạc dẫn đến nợ nần, ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế gia đình. Nhiều lần chị T khuyên nhủ anh từ bỏ cờ bạc, nhưng anh không lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng của chị mà còn thường xuyên có hành vi bạo hành gia đình. Từ tháng 8/2023 đến nay chị và anh H sống ly thân, cả hai đều không có thiện chí hoà giải để hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ. Nhận thấy đời sống hôn nhân không có hạnh phúc, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, mặc dù đã được Tòa án thông qua chính quyền địa phương tống đạt trực tiếp giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để anh H đến Toà án thực hiện quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Tuy nhiên, anh H từ chối nhận giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án. Toà án cũng đã nhiều lần liên lạc với anh H theo số điện thoại do nguyên đơn cung cấp trong đơn khởi kiện là 0862.749.912 và 0373.873.834 nhưng anh H hoặc không tiếp nhận cuộc gọi hoặc đã tiếp nhận cuộc gọi nhưng từ chối đến Toà án tham gia tố tụng và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, Toà án phải phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành niêm yết công khai giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Toà án tại nơi đăng ký cư trú theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xem xét, giải quyết vụ theo thủ tục chung, nhưng anh H tiếp tục lẩn tránh, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, thể hiện thái độ bỏ mặc.

Từ những nhận định trên, HĐXX có đủ căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình – 2014 nên được HĐXX chấp nhận.

[2.3] Về quan hệ con chung: Giữa chị T với anh H có 02 người con chung chưa thành niên là cháu Phùng Thị Thu P; sinh ngày 30/10/2012 và cháu Phùng Hải N; sinh ngày 06/01/2016. Hiện tại sức khỏe, thể chất của các cháu phát triển bình thường, đang được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị T yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu; không yêu cầu Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

Xét việc tranh chấp nuôi con của các đương sự, HĐXX thấy rằng: từ khi chị T và anh H sống ly thân mỗi người một nơi, cháu P và cháu N được chị T đưa về bên ngoại để chăm sóc, nuôi dưỡng. Từ tháng 8/2023 đến nay, mặc dù không được anh H quan tâm, chia sẻ về vật chất lẫn tinh thần, nhưng chị T vẫn đảm bảo được mọi nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt, học tập của các cháu. Mặt khác, hiện nay cháu P và cháu N đã hơn 07 tuổi, Tòa án cũng đã tiến hành lấy ý kiến cả hai cháu và nguyện vọng của hai cháu là mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy, HĐXX xét giao cháu P và cháu N cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của chị T được Toà án chấp nhận. Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[2.4] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp nên HĐXX cũng không xem xét, giải quyết.

[3] Án phí DSST: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV, chị Trịnh Thị T phải chịu án phí ly hôn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, các Điều 264, 266, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm – 2014;
  • - Áp dụng khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị T về việc yêu cầu ly hôn với anh Phùng Văn H.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị T được ly hôn với anh Phùng Văn H.
  3. Về quan hệ con chung:
    • Chị Trịnh Thị T được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các cháu Phùng Thị Thu P; sinh ngày 30/10/2012 và cháu Phùng Hải N; sinh ngày 06/01/2016; nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn các đương sự không tranh chấp nên Toà án không xem xét, giải quyết.
    • Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở;
    • Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  5. Án phí DSST:
    • Án phí ly hôn: Chị Trịnh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006768 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trịnh Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Phùng Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai hợp lệ bản án.

* Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND tỉnh Bình Định
  • - VKSND huyện Phù Cát;
  • - THA DS huyện Phù Cát;
  • - UBND xã Cát Tường, huyện Phù Cát;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đình Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 236/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn Trịnh Thị T và bị đơn Phùng Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger