TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 236/2024/HC-PT
Ngày: 16/4/2024
V/v khiếu kiện hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Minh Tuấn; |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Xuân Trọng; |
| Ông Võ Hồng Sơn. |
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Lê Giang - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện K sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai - K sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần - trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hành chính thụ lý số 727/2023/TLPT-HC ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3866/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Lưu Văn K sinh năm 1938; địa chỉ: Tổ 02, phường Ô, thị xã S, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Ma Ngọc Mạnh L sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ 1, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai (Văn bản ủy quyền ngày 04/7/2022); vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bị kiện: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai; địa chỉ: số 08 đường L, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Ông Hoàng Công P - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S; có mặt.
1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai; địa chỉ: Số 91 phố X, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Ông Phạm Tiến D - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã S (Văn bản ủy quyền ngày 28/4/2023); vắng mặt.
- Người kháng cáo: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai là người bị kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2023 (Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai nhận ngày 13/3/2023) và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là ông Lưu Văn K và người đại diện của người khởi kiện trình bày:
Năm 1963, gia đình ông Lưu Văn K khai hoang được một thửa đất có diện tích 5.161,54m² tại tổ dân phố số 14, thị trấn S, huyện S (nay là tổ dân phố số 2, phường Ô, thị xã S), tỉnh Lào Cai. Sau khi khai hoang, gia đình ông K đã canh tác, trồng trọt trên thửa đất này. Đến năm 1979, ông K xây dựng nhà ở, công trình phụ và sử dụng đất ổn định không tranh chấp với ai. Năm 1990, ông K làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) và được Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện S (nay là thị xã S) cấp GCNQSDĐ số A 131325, số cấp GCNQSDĐ số 00327, với diện tích đất nhà ở + vườn là 720.0m² nhưng không ghi rõ diện tích đất ở là bao nhiêu. Tháng 8/2022, ông K nộp hồ sơ đề nghị xác định diện tích đất ở đối với thửa đất theo GCNQSDĐ số A131325 do UBND huyện S cấp ngày 01/7/1990 mang tên ông K. Ngày 06/10/2022, Văn phòng Đăng ký đất đai (sau đây viết tắt là VPĐKĐĐ) thị xã S ban hành Văn bản số 445/VPĐK-ĐKĐ v/v trả lại hồ sơ cho công dân với nội dung: “Hiện tại Văn phòng Đăng ký đất đai và các đơn vị có liên quan không lưu trữ hồ sơ đối với thửa đất nêu trên. Theo hướng dẫn của Văn bản số 583/VPĐK-ĐKCG ngày 20/10/2016 về hướng dẫn thực hiện đăng ký biến động đất đai, đối với trường hợp không có hồ sơ gốc thì tổng hợp báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện nơi có đất. Hiện tại UBND thị xã S đã báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường. Trong thời gian chờ ý kiến chỉ đạo, Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S trả lại hồ sơ và đề nghị gia đình đến Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của UBND thị xã S để nhận lại hồ sơ, sau khi có ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Lào Cai, Sở Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký đất đai sẽ thông báo để gia đình nộp lại hồ sơ và giải quyết theo quy định”.
Do đó, ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Hủy toàn bộ Văn bản số 445/VPĐK-ĐKĐ ngày 06/10/2022 v/v trả lại hồ sơ cho công dân của VPĐKĐĐ thị xã S (nay là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S), tỉnh Lào Cai đối với ông K.
2
- Buộc UBND thị xã S phải thực hiện thủ tục xác định diện tích đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 3 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013 cho ông K.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại ngày 06/7/2023, các đương sự đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xác định lại tư cách tham gia tố tụng theo quy định tại Nghị định số 10/NĐ-CP ngày 06/7/2023 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, cụ thể: Xác định người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S và buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S phải thực hiện thủ tục xác định diện tích đất ở theo quy định của pháp luật.
Người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai (do người đại diện hợp pháp) trình bày:
Ngày 25/8/2022, Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S nhận được hồ sơ đề nghị cấp đổi GCNQSDĐ của ông Lưu Văn K đối với thửa đất theo GCNQSDĐ số A 131325, diện tích 720m² đất nhà ở + vườn trồng màu, do UBND huyện S, cấp ngày 01/07/1990 mang tên ông K, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố số 02, phường Ô, thị xã S, tỉnh Lào Cai từ Bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của UBND thị xã S chuyển đến.
Căn cứ Thông báo số 283/TB-VPUB ngày 01/8/2016 và Thông báo số 316/TB-VPUB ngày 16/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai về việc kiểm tra, đối soát hồ sơ gốc, trước khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai. Qua rà soát hồ sơ trên không có tại kho lưu trữ của Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S. Theo hướng dẫn của VPĐKĐĐ tỉnh Lào Cai tại Văn bản số 583/VPĐK-ĐKCG ngày 20/10/2016 về hướng dẫn thực hiện đăng ký biến động đất đai, đối với trường hợp không có hồ sơ gốc thì tổng hợp báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện nơi có đất. Ngày 03/10/2022, UBND thị xã S đã ban hành Văn bản số 3033/UBND-VPĐK về việc tổng hợp các trường hợp đã được cấp GCNQSDĐ nhưng không có hồ sơ gốc trên địa bàn thị xã S.
Ngày 06/10/2022, VPĐKĐĐ thị xã S đã ban hành Văn bản số 445/VPĐK-ĐKĐ về việc trả lại hồ sơ cho công dân. Tại Văn bản này có nội dung: Hồ sơ của ông Lưu Văn K thuộc trường hợp đã được cấp GCNQSDĐ nhưng không có hồ sơ gốc. Hiện tại, UBND thị xã S đã có báo cáo sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai để được xem xét, hướng dẫn giải quyết và đề nghị gia đình đến Bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của UBND thị xã S để nhận lại hồ sơ. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Lào Cai, Sở Tài nguyên và Môi trường, VPĐKĐĐ sẽ thông báo để gia đình nộp lại hồ sơ và giải quyết theo quy định.
Ngoài ra, đối với hồ sơ của hộ ông K, Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S có một số vướng mắc sau:
3
- Không có hồ sơ cấp GCNQSDĐ, Người đang sử dụng đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013.
- GCNQSDĐ số A 131325 do UBND huyện S cấp ngày 01/7/1990 thể hiện loại đất “Nhà ở + vườn trồng màu” là không đúng quy định của Luật Đất đai.
- GCNQSDĐ số A 131325 do UBND huyện S cấp ngày 01/7/1990 là sai thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 13 Luật Đất đai năm 1987.
Theo Văn bản số 1007/TCQLĐĐ-CĐKĐĐ ngày 07/06/2019 của Tổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn thực hiện hồ sơ địa chính gốc bị mất. Tại Văn bản này hướng dẫn các trường hợp không có hồ sơ gốc thì Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh thành lập đoàn thanh tra, thanh ra về công vụ việc chấp hành các thủ tục hành chính về đất đai và sau khi có kết luận thanh tra, căn cứ từng trường hợp cụ thể để giải quyết.
Căn cứ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S chưa thực hiện việc tham mưu cấp đổi QCNQSDĐ cho ông K nên đã trả lại hồ sơ cho công dân là có căn cứ. Đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai trình bày: Thống nhất với ý kiến của người bị kiện. Đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 31/07/2023, Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 100, khoản 1 và khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn K.
- Huỷ Văn bản trả lời số 445/VPĐL-ĐKĐ ngày 06/10/2022 của Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai về việc trả hồ sơ cho ông Lưu Văn K.
- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai phải thực hiện nhiệm vụ công vụ là xác định diện tích đất ở cho ông Lưu Văn K theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm có quyết định về án phí, chi phí thẩm định tại chỗ và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
4
Ngày 21/8/2023, người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về nội dung buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai phải thực hiện nhiệm vụ công vụ là xác định diện tích đất ở cho ông Lưu Văn K theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Ma Mạnh Ngọc L là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S, tỉnh Lào Cai giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã S vắng mặt không có lý do và đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người khởi kiện và người bị kiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã S, tỉnh Lào Cai không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Ma Ngọc Mạnh L là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là ông Lưu Văn K vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã S vắng mặt không có lý do nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và không có kháng cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính.
- Về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn K là đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Ngày 13/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai nhận đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2023 của ông Lưu Văn K yêu cầu hủy Văn bản số 445/VPĐK-ĐKĐ ngày 06/10/2022 v/v trả lại hồ sơ cho công dân của Văn phòng đăng ký đất đai thị xã S (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã S), tỉnh Lào Cai đối
5
với ông Lưu Văn K; buộc UBND thị xã S phải thực hiện thủ tục xác định diện tích đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 3 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai cho ông Lưu Văn K. Văn bản số 445/VPĐK-ĐKĐ ngày 06/10/2022 của VPĐKĐĐ thị xã S là văn bản trả lời về việc cấp đổi GCNQSDĐ, văn bản này không thể hiện dưới dạng quyết định hành chính nhưng có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính; tại thời điểm ông K khởi kiện, trách nhiệm xác định diện tích đất ở đối với diện tích đất mà ông Lưu Văn K đã được UBND huyện S (nay là thị xã S) cấp GCNQSDĐ ngày 01/7/1990 thuộc về UBND thị xã S nên việc UBND thị xã S không xác định diện tích đất ở cho ông Lưu Văn K là hành vi hành chính; Văn bản số 445/VPĐK-ĐKĐ ngày 06/10/2022 và hành vi hành chính không xác định không xác định diện tích đất ở cho ông K nêu trên là quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quy định tại khoản 7 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 và là đối tượng khởi kiện hành chính theo quy định tại các khoản 2, 4 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Ông K khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính và việc Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai thụ lý, xét xử theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại các điều 158, 168 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Theo Quyết định số 622/QĐ-UBND ngày 04/3/2021 của UBND tỉnh Lào Cai về việc thí điểm chuyển giao VPĐKĐĐ thị xã S về trực thuộc UBND thị xã S, VPĐKĐĐ thị xã S là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND thị xã S, chịu sự quản lý trực tiếp và toàn diện của UBND thị xã S, nên tại thời điểm khởi kiện và thụ lý, ông K và Tòa án cấp sơ thẩm xác định UBND thị xã S là người bị kiện và VPĐKĐĐ thị xã S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đúng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 20/5/2023, Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai có hiệu lực thi hành và theo quy định tại Nghị định số 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023 thì VPĐKĐĐ, Chi nhánh VPĐKĐĐ thực hiện việc cấp, cấp đổi GCNQSDĐ và xác định lại diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ. Do đó, trên cơ sở các quy định nêu trên và đề nghị của các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định thay đổi tư cách tham gia tố tụng và xác định người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã S, là đúng quy định của pháp luật.
[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2023, người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S, tỉnh Lào Cai có đơn kháng cáo đúng quy định tại Điều 205, khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
6
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Ma Ngọc Mạnh L là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND thị xã S vắng mặt không có lý do nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và không có kháng cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung:
[6] Sau khi xét xử sơ thẩm, người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về nội dung buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S, tỉnh Lào Cai phải thực hiện nhiệm vụ công vụ là xác định diện tích đất ở cho ông Lưu Văn K và không kháng cáo đối với nội dung khác của bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S khẳng định chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về nội dung nêu trên và không kháng cáo đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm. Ngoài nội dung kháng cáo nêu trên của người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S thì bản án sơ thẩm không bị Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và không bị các đương sự khác trong vụ án kháng cáo. Do đó, các nội dung còn lại của bản án sơ thẩm về huỷ Văn bản trả lời số 445/VPĐK-ĐKĐ ngày 06/10/2022 của VPĐKĐĐ thị xã S về việc trả hồ sơ cho ông K, án phí hành chính sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Xét nội dung kháng cáo của người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S đối với một phần bản án sơ thẩm về nội dung buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S, tỉnh Lào Cai phải thực hiện nhiệm vụ công vụ là xác định diện tích đất ở cho ông Lưu Văn K, thấy rằng:
[7.1] Tại Biên bản ngày 25/12/2018 về việc xin ý kiến khu dân cư về thời điểm sử dụng đất và làm nhà ở của ông Lưu Văn K và ông Lưu Hồ Đ ở tổ 14, thị trấn S, huyện S (trước đây) do UBND thị trấn S chủ trì có nội dung: Những người sinh sống ở tổ 14, thị trấn S (cùng tổ dân phố với ông K) từ những năm 1960, 1970 đều xác định diện tích đất mà ông K được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ ngày 01/7/1990 đã được gia đình ông K quản lý, sử dụng, làm nhà trên đất từ những năm 1970 và không có tranh chấp với người khác về diện tích đất này. Biên bản này có xác nhận của UBND thị trấn S và phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
[7.2] Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông K còn cung cấp GCNQSDĐ số A 131325 do UBND huyện S cấp ngày 01/7/1990 mang tên ông Lưu Văn K, diện tích 720,0m² đất nhà ở + vườn và 02 bản sao Giấy khai sinh của các con đẻ ông K là anh Lưu Quang V sinh năm 1984, anh Lưu Quang  sinh năm 1978 đều thể hiện các con đẻ của ông K là anh Â, anh V được sinh tại Trạm xá Ô, thị trấn S.
7
[7.3] Trách nhiệm lập, lưu giữ hồ sơ cấp GCNQSDĐ là của cơ quan quản lý đất đai, không phải trách nhiệm của người sử dụng đất, nên việc không có hồ sơ lưu trữ về cấp GCNQSDĐ cho ông K thuộc về trách nhiệm của của cơ quan quản lý đất đai, không phải là trách nhiệm của ông K. Mặt khác, theo Văn bản số 3033/UBND-VPĐK ngày 03/10/2022 về việc tổng hợp các trường hợp đã được cấp GCNQSDĐ nhưng không có hồ sơ gốc trên địa bàn thị xã S do người bị kiện cung cấp thể hiện: “Năm 1990, 1991 chỉ có sổ thống kê viết tay danh sách cấp GCNQSDĐ của thị trấn S, trong đó có 08 trường hợp đang thực hiện nộp hồ sơ đăng ký biến động QSDĐ theo Biểu 02 kèm theo”; tại Biểu 02 danh sách kèm theo có tên ông Lưu Văn K, diện tích 720m²; loại đất: ODT+ vườn; số vào sổ GCN: 00326; số phát hành GCN: A131325; năm cấp: 1990. GCNQSDĐ ngày 01/7/1990 là một trong các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.
[7.4] Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xem xét đối với diện tích đất 720,0m² của ông Lưu Văn K tại tổ 02, phường Ô, thị xã S, tỉnh Lào Cai (GCNQSDĐ số A 131325) xác định có các tài sản gắn liền với thửa đất, bao gồm: 01 ngôi nhà gỗ lợp ngói có diện tích 66,8m², có kích thước cạnh 7,12 x 9,38m; 01 bể nước có diện tích 3m², có kích thước cạnh 1,43 x 2,08m; 01 chuồng lợn có diện tích 9,3m², có kích thước cạnh 2,40 x 3,88; 01 nhà vệ sinh có diện tích 1,3m² có kích thước cạnh thửa 0,96 x 1,41m; ngoài ra, trên đất còn có nhiều loại cây cối, hoa màu.
[7.5] Tiến hành lồng ghép 720,0m² của hộ ông K lên bản đồ địa chính năm 2000 của thị trấn S (cũ) nay là thị xã S đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai nghiệm thu năm 2000 thể hiện diện tích đất của hộ ông K: Có 435m² nằm trong thửa đất số 124 tờ bản đồ P2-5, được quy chủ cho ông Lưu Văn K, mục đích sử dụng đất: T (đất ở); có 274,3m² nằm trong thửa đất số 116 tờ bản đồ P2-5, được quy chủ cho ông Lưu Văn K, mục đích sử dụng đất: Vườn; có 10,7m² nằm trong thửa đất số 115 tờ bản đồ P2-5, được quy chủ cho ông Đặng Hữu Xoan, mục đích sử dụng đất: Vườn;
[7.6] Tiến hành lồng ghép 720,0m² của hộ ông K lên bản đồ địa chính năm 2021 của phường Ô đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai nghiệm thu năm 2021 thể hiện diện tích đất của hộ ông K: Có 706,8m² nằm trong thửa đất số 84 tờ bản đồ DC12, được quy chủ cho ông Lưu Văn K, mục đích sử dụng đất: CLN; có 11,8m² nằm trong thửa đất số 70 tờ bản đồ DC12 được quy chủ cho ông Đặng Hữu Xoan, mục đích sử dụng đất: NHK; có 1,4m² nằm trong thửa đất số 106 tờ bản đồ DC12, được quy chủ cho bà Nguyễn Thị Phương, mục đích sử dụng đất: CLN.
[7.7] Đối với các phần diện tích đất được quy chủ cho các hộ gia đình khác theo biên bản xem xét thẩm định thì ông K và các hộ được quy chủ đất đều nhất trí đối với phần diện tích đã được quy chủ.
8
[7.8] Bản đồ địa chính năm 2021 của phường Ô, thị xã Lào Cai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai nghiệm thu năm 2021 xác định loại đất của ông K khác với GCNQSDĐ ngày 01/7/1990, bản đồ địa chính năm 2000 của thị trấn S (cũ) nay là thị xã S đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai nghiệm thu năm 2000, thực trạng sử dụng đất của hộ ông K, là không đúng với nguồn gốc, thực trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính cũ và việc tại Bản đồ địa chính năm 2021 của phường Ô xác định đất của hộ ông K là loại đất trồng cây lâu năm là không có căn cứ.
[7.9] Như vậy, theo các tài liệu, chứng cứ và phân tích nêu trên, có đủ căn cứ xác định thửa đất của ông K được hình thành trước ngày 18/12/1980, gia đình ông K đã cư trú, sinh sống, sử dụng ổn định diện tích đất này cho đến nay, không có tranh chấp và đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ ngày 01/7/1990, diện tích đất được cấp GCNQSDĐ là 720m² loại đất thổ cư và đất vườn; bản đồ địa chính năm 2000 của thị trấn S (cũ) nay là thị xã S đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai nghiệm thu năm 2000 xác định diện tích đất của hộ ông K có 435m² đất ở. Do đó, việc xác định diện tích đất ở cho hộ ông K đối với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 3 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và thuộc trách nhiệm của Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S.
[7.10] Do đó, việc người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng ông K không có hồ sơ cấp GCNQSDĐ, không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật Đất đai 2013; GCNQSDĐ do UBND huyện S cấp ngày 01/7/1990 là sai thẩm quyền theo quy định tại khoản 3,4 Điều 13 Luật Đất đai năm 1987; GCNQSDĐ thể hiện loại đất: “Nhà ở + vườn trồng màu” là không đúng quy định của pháp luật đất đai, để chưa xác định diện tích đất ở cho hộ ông K là không có căn cứ. Bởi vì: UBND huyện S có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện S theo quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 13 Nghị định số 30-HĐBT ngày 23 tháng 3 năm 1989 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật Đất đai; việc ghi nội dung trên GCNQSDĐ thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về cấp GCNQSDĐ; việc xác định diện tích đất ở trong trường hợp giấy tờ về quyền sử dụng đất không ghi rõ diện tích đất ở được thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai chứ không phụ thuộc vào ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Lào Cai hay Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai.
[8] Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện của ông K về việc hủy Văn bản 445/VPĐK-ĐKĐ ngày 06/10/2022 của VPĐKĐĐ thị xã S và buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S thực hiện việc xác định diện tích đất ở cho ông K, là có căn cứ, đúng pháp luật.
9
[9] Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của người bị kiện là Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung buộc Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S phải thực hiện nhiệm vụ công vụ là xác định diện tích đất ở cho ông K đúng quy định của pháp luật.
[10] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là bác kháng cáo của người bị kiện Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã S, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, là có cơ sở nên được chấp nhận.
[11] Do kháng cáo không được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326//2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Bác kháng cáo của người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai về việc buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai phải thực hiện nhiệm vụ công vụ là xác định diện tích đất ở cho ông Lưu Văn K theo đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hành chính phúc thẩm, được đối trừ với số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000360 ngày 30/8/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai, xác nhận Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Minh Tuấn |
10
11
Bản án số 236/2024/HC-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 236/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo của người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã S, tỉnh Lào Cai, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm
