|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI _________________ Bản án số: 236/2022/HCPT Ngày: 24/6/2022 V/v: khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hoa;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân; Ông Hoàng Mạnh Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hành chính thụ lý số 518/2021/TLPT-HC ngày 23 tháng 11 năm 2021 do có kháng cáo của người khởi kiện, đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2021/HC-ST ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5281/2022/QĐ-PT ngày 09 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Xuân T; sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn 7, xã L V, thành phố T Q, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Xuân T: Ông Lã Tân T – Luật sư Văn phòng Luật sư P T, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thành phố T Q, tỉnh Tuyên Quang; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân N – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố T Q. Xin xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn S – Chức vụ: Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế G – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang. Xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã L V, thành phố T Q, tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Duy T – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã L V. Xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn 7, xã L V, thành phố T Q, tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Xuân T trình bày: Nguồn gốc đất hiện tại của gia đình ông là được sử dụng ổn định từ năm 1983, một phần là do ông khai phá, một phần là mua lại của ông P bà L với tổng diện tích là 350m2. Năm 1984 ông Nguyễn Xuân T có làm đơn xin cấp đất và làm nhà được UBND xã L V cho ông vào đất đồi chè của hợp tác xã. Đến năm 1989, trường được mở rộng lấy vào phần diện tích đất của gia đình nên UBND xã L V và UBND huyện Y S giao cho ông 01 lô đất với diện tích là 710m2. Đến năm 1994, UBND tỉnh ban hành quyết định 275 thu hồi đất để xây dựng Trạm kiểm soát lâm sản. Ông xác định phần thu hồi có diện tích 120m2 là đất của gia đình ông.
Ông Nguyễn Xuân T làm đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án:
- Tuyên hủy Quyết định số 275/QĐ-UB ngày 10/5/1994 của UBND tỉnh Tuyên Quang.
- Tuyên hủy Văn bản số 1018/UBND-TNMT ngày 23/4/2021 của UBND thành phố T Q.
- Tuyên hủy Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 của UBND thành phố T Q.
- Tuyên hủy Quyết định số 697/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 của UBND thành phố T Q.
- Tuyên hủy Quyết định số 203/QĐ-UBND ngày 15/6/2017 của UBND thành phố T Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Xuân T trong thời hạn luật định, hình thức, nội dung phù hợp quy định, do vậy được xem xét theo trình thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 14/5/2021, ông Nguyễn Xuân T đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang yêu cầu hủy Văn bản số 1018/UBND-TNMT ngày 23/4/2021 là đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Xét kháng cáo yêu cầu hủy Văn bản số 1018/UBND-TNMT: Hội đồng xét xử thấy rằng việc UBND thành phố T Q ban hành văn bản trả lời nội dung đơn đề nghị của công dân là đúng thẩm quyền, trình tự và nội dung phù hợp với quy định pháp luật.
[4] Đối với các quyết định hành chính khác (số 275, 143, 145, 203): Các quyết định này đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông T đối với các quyết định này là không có cơ sở để chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
2.1. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Xuân T. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 22/2021/HC-ST ngày 17 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
2.2. Về án phí: Ông Nguyễn Xuân T được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu Phòng HCTP; HSVA; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hoa |
Bản án số 236/2022/HCPT ngày 24/06/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 236/2022/HCPT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2022
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Xuân T khởi kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính
