Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 236/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước
  2. Ông Bùi Quang Chính

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc N - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 205/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Cảnh P, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2001 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố V, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Cảnh C, sinh năm 1969 và bà Lê Thị G, sinh năm 1973; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Đình T, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Lê H, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: 71/3 Đường 5, Khu phố 2, phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Anh Nguyễn Trung Q, sinh năm 1973 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: A K, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Công T1, Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10 năm 2022, Phạm Cảnh P có quen một người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch). T2 có nói với P nếu gặp khó khăn về kinh tế thì liên hệ với T2, để T2 giao cho việc kiếm tiền bằng cách buôn bán pháo nổ. Vào khoảng tháng 8 năm 2023, P liên lạc qua Zalo với T2 xin được làm với T2 về việc bán pháo nổ thì T2 đồng ý. T2 thỏa thuận với P, khi có khách hàng cần mua pháo, Phú báo cho T2 biết để T2 giao pháo cho P để P đem bán cho khách, khi bán được hàng thì T2 trả công cho P là 100.000 đồng/01 hộp pháo loại dàn 49 và 100.000 đồng/01 bịch pháo banh.

Khoảng 16 giờ ngày 22/12/2023, T2 điện thoại qua Zalo cho Phạm Cảnh P, nói có khách hàng đặt mua pháo nổ. T2 nói với P đến nhận pháo để giao cho khách ở phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, P đi đến gần chùa T4, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận 18 hộp pháo nổ hình khối loại 49 ống và 08 bịch pháo bị hình tròn từ một tài xế chạy xe taxi (không nhớ hãng taxi nào). Nhận xong, P điện thoại qua Z thuê tài xế Lê Đình T để nhờ T chở hàng đi giao cho khách thì T đồng ý. Sau đó, T hỏi P chở hàng gì thì P trả lời “hàng hóa là mỹ phẩm và nước hoa”. T điều khiển xe ô tô biển số 51H-204.06 của mình đến trước cổng chùa T4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. P thuê xe Grap chở 01 thùng giấy có quấn băng keo bên ngoài màu vàng và 01 bao nilon màu đen bên trong có chứa 18 hộp pháo nổ hình khối, loại 49 ống và 08 bịch pháo bị hình tròn đến địa điểm xe của T. T mở cốp xe của mình để cho P khiêng thùng hàng bỏ vào bên trong cốp. Sau đó, T chở hàng đi giao theo vị trí định vị trên Zalo mà P gửi. Khi T đi đến địa bàn phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp lực lượng Công an phường L đang đi tuần tra, kiểm soát an ninh trật tự trên địa bàn. Qua kiểm tra, Công an phát hiện hàng hóa trên xe của T nghi là pháo nổ nên đã đưa T về Cơ quan Công an làm việc. Qua làm việc, Lê Đình T khai nhận chở hàng thuê cho Phạm Cảnh P, T không biết bên trong các thùng hàng là pháo nổ.

Qua truy xét, Cơ quan Công an đã đưa Phạm Cảnh P về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Cảnh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngoài ra, Phạm Cảnh P còn khai nhận: Khoảng đầu tháng 12/2023, T2 gọi điện thoại qua Z cho P nói có khách hàng ở quận G, thành phố Hồ Chí Minh cần mua pháo và nói P đi giao hàng, thì P đồng ý. Sau đó, P liên hệ với Lê Đình T chở 01 thùng hàng bên trong có 10 hộp pháo nổ loại 49 ống. T nhận chở hàng nhưng không biết bên trong thùng hàng có pháo nổ nên đi giao hàng theo địa chỉ P đưa tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hàng xong, P chuyển vào tài khoản ngân hàng trả tiền chở hàng cho T số tiền 500.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số: 333/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

18 khối hình hộp kích thước 18x18x10cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối bên trong có 49 lỗ hình trụ có đường kính 2,0cm, cao 10cm được gắn với nhau) đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 32,92 kg.

Các vật thể hình cầu nhiều màu sắc, đường kính 2,5cm, có gắn sợi dây màu xanh đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 3,32 kg.

Tổng khối lượng pháo nổ là 36,24 kg.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 thùng giấy đã được dán kín băng keo bên ngoài, bên trong có chứa 18 hộp pháo dàn nổ;
  • - 01 túi ny lông màu đen đã được dán kín băng keo bên ngoài, bên trong có chứa 08 bịch ny lông chứa pháo banh;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S (2018) màu xanh, Imel 1: 353465101583662; Imel 2: 353465101583660; bên trong có sim thuê bao số 0918224570;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia model RM-1187; Imel 1: 358985092427400; Imel 1: 358985096427406 bên trong có sim thuê bao số 0793222215 và 0523487715;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max 64Gb màu đen, bên trong có sim thuê bao số 0879036363;
  • - 01 xe ô tô biển số 51H-204.06 (số khung: MK2XRNC1WKN062660; số máy: 4A91HJ4673). Qua xác minh, xe ô tô trên do bà Lê Phạm Như T3 vợ của Lê Đình T đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe trên cho bà T3.

Cáo trạng số: 205/CT-VKSTPTĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phạm Cảnh P về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Cảnh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên Quyết định truy tố đối với Phạm Cảnh P về tội “Buôn bán hàng cấm”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Vật chứng vụ án: Đề nghị:

  • Tịch thu tiêu hủy: 17 hộp pháo nổ hình vuông (loại dàn 49); 07 bịch ni lông chứa pháo banh (còn lại sau giám định).
  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max 64Gb màu đen, bên trong có sim thuê bao số 0879036363.
  • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia model RM-1187; Imel 1: 358985092427400; Imel 1: 358985096427406 bên trong có sim thuê bao số 0793222215 và 0523487715.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Cảnh P trình bày: Bị cáo Phạm Cảnh P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do đó thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; cha của bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính; cha của bị cáo có nhiều thành tích đóng góp ở địa phương, được tặng thưởng nhiều giấy khen; bị cáo phạm tội lần đầu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Cảnh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; Bản tự khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Phạm Cảnh P nhận lời bán giúp pháo nổ (hàng hóa cấm buôn bán) của một người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) để kiếm lợi nhuận. Ngày 22/12/2023, P nhận của T2 số lượng 18 hộp pháo nổ hình khối, loại 49 ống và 08 bịch pháo bị hình tròn, tổng khối lượng pháo nổ là 36,24 kg. Sau đó, P liên hệ qua Z thuê xe của Lê Đình T đi giao cho khách tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Hành vi của Phạm Cảnh P đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Phạm Cảnh P là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các mặt hàng cấm kinh doanh của Nhà nước. Pháo nổ là hàng hóa đặc biệt nguy hiểm, sử dụng pháo nổ không được quản lý sẽ gây lên những hệ lụy xấu cho xã hội, cho người sử dụng đồng thời làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ việc buôn bán pháo nổ trái phép là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện để thu lợi bất chính cho bản thân. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha của bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, cha bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen và có nhiều đóng góp ở địa phương, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét, không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly ra khỏi xã hội trong thời gian chấp hành bản án, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thời gian tạm giam đã có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đủ để tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[6] Đối với Lê Đình T, T đã sử dụng xe ô tô biển số 51H-204.06 vận chuyển khối lượng 36,24 kg pháo nổ. Tuy nhiên, T không biết bên trong thùng hàng là pháo nổ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự đối với T là có căn cứ.

[7] Đối với người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) đã chuyển pháo cho Phú bán, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Đối với những người mua đặt pháo của P, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[9] Đối với số lượng 10 hộp pháo nổ loại 49 ống mà P khai nhận bán cho một người ở quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bán dùm cho T2, không rõ lai lịch và được T2 trả tiền công cho P 1.000.000 đồng (bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa chứng minh được người mua, loại pháo, khối lượng nên chưa có cơ sở để xử lý đối với Phạm Cảnh P về lần buôn bán này, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[10] Về xử lý vật chứng:

[10.1] 17 hộp pháo nổ hình vuông (loại dàn 49); 07 bịch ni lông chứa pháo banh (còn lại sau giám định). Đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10.2] 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max 64Gb màu đen, bên trong có sim thuê bao số 0879036363. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10.3] 01 điện thoại di động hiệu Nokia model RM-1187; Imel 1: 358985092427400; Imel 1: 358985096427406 bên trong có sim thuê bao số 0793222215 và 0523487715. Điện thoại này không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[10.4] 01 xe ô tô biển số 51H-204.06 (số khung: MK2XRNC1WKN062660; số máy: 4A91HJ4673). Qua xác minh, xe ô tô trên do bà Lê Phạm Như T3 (vợ của Lê Đình T) đứng tên chủ sở hữu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trao trả xe mô tô trên cho bà Lê Phạm Như T3 là có cơ sở.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Phạm Cảnh P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Phạm Cảnh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Cảnh P cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Buộc bị cáo Phạm Cảnh P nộp số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 (một triệu) đồng vào ngân sách Nhà nước (đã nộp theo biên lai thu số 0005503 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Căn cứ vào khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phạm Cảnh P, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, tiêu hủy: 17 hộp pháo nổ hình vuông (loại dàn 49); 07 bịch ni lông chứa pháo banh (còn lại sau giám định).

(Theo Lệnh nhập kho (vật chứng) số 20/2024.VC ngày 27/02/2024 của Q1, Bộ Tư lệnh Thành phố H; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/3/2024)

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max 64Gb màu đen, bên trong có sim thuê bao số 0879036363.

Trả lại cho bị cáo Phạm Cảnh P 01 điện thoại di động hiệu Nokia model RM-1187; Imel 1: 358985092427400; Imel: 358985096427406 bên trong có sim thuê bao số 0793222215 và 0523487715.

(theo Phiếu nhập kho số NK24/220C ngày 24/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Cảnh P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 236/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 236/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Cảnh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger