|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2355/2024/DS-ST
Ngày: 07-06-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1747/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1940/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2937/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc H.
Địa chỉ: số C đường H, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn:
Ông Nguyễn Văn T
Bà Huỳnh Thị Ngọc
Cùng địa chỉ: 9 đường số A, tổ C, khu phố Ô, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Hồng Đ
Địa chỉ: số C đường H, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn – ông Phạm Ngọc H - trình bày như sau:
Ông H và bà Ngô Thị Hồng Đ là vợ chồng. Bà Đ là cháu ruột của bà Huỳnh Thị N. Bà N và ông Nguyễn Văn T vợ chồng. Vì là chỗ gia đình thân thiết nên khi ông T và bà N trình bày gia đình khó khăn nên ngày 20/7/2021 ông H đã đồng ý cho ông T và bà N mượn số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn là 01 năm (từ ngày 20/7/2021 đến 20/7/2022), lãi suất hai bên tự thỏa thuận 3%/ tháng. Việc vay tiền có lập giấy tờ theo Giấy mượn tiền ngày 20/7/2021, nhưng không ghi thoa thuận tiền lãi. Sau đó, bà N có gọi điện thoại mươn thêm số tiền 50.000.000 đồng, ông T qua nhận tiền. Hai bên thỏa thuận miệng với nhau là sẽ thạnh toán tiền theo giấy vay tiền ngày 20/7/2021, tổng cộng số nợ là 350.000.000 đồng. Ông T và bà N có đóng tiền lãi tháng 8, tháng 9, tháng 10/2021 nhưng mỗi tháng chỉ đóng được 9.000.000 đồng, sau đó không đóng nưa. Ông bà có hứa là sẽ bán nhà trả nợ. Hết thời hạn trả nợ ngày 20/7/2022, ông bà T vẫn chưa tra được tiền. Đến tháng 9/2022, ông H đã yêu cầu làm lại giấy tờ là tờ giấy mượn tiền ghi ngày 20/7/2022, thời hạn trả nợ đến ngày 20/7/2023. Thực ra số tiền nợ 350.000.000 đồng tại giấy mượn tiền ngày 20/07/2022 là số tiền chuyển từ giấy mượn tiền ngày 20/07/2021 qua. Số tiền cho vay là tài sản chung của vợ chồng ông H.
Hết hạn theo giấy mượn tiền ngày 20/7/2022 nhưng ông T bà N vẫn không trả tiền cho ông H. Ông H đã nhiều lần liên hệ yêu cầu vợ chồng ông T và bà N trả tiền tuy nhiên cả hai luôn tìm cách tránh né ông H, hẹn hết lần này đến lần khác nhưng vẫn không chịu trả tiền.
Ông H có làm thông báo gửi đến vợ chồng ông T và bà N yêu cầu phải thanh toán cho ông H số tiền 350.000.000 đồng trước ngày 18.9.2023, tuy nhiên hết ngày 18/9/2023 ông T và bà N vẫn không trả tiền cho ông H.
Nay, ông H yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết vấn đề sau đây: Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị N phải trả cho ông H số tiền 350.000.000 đồng mà ông bà đã mượn của ông H theo giấy mượn tiền ngày 20/7/2022. Ông H không yêu cầu trả tiền lãi, chỉ yêu cầu trả tiền gốc.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông T và bà N đến Tòa án để làm bàn tự khai, tham gia phiên họp về việc kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T và bà N đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, ông H thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết vấn đề sau đây: Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị N trả lại cho bà số tiền gốc là 340.340.787 đồng. Ông H không yêu cầu tính lãi.
Lý do ông H thay đổi yêu cầu là vì trước đây, ông T và bà N có đóng tiền lãi tháng 8, tháng 9, tháng 10/2021 mỗi tháng 9.000.000 đồng cho ông, số tiền này cao hơn mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật nên ông thay đổi yêu cầu khởi kiện cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị N vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Hồng Đ trình bày: Số tiền cho vay là tài sản chung của vợ chồng bà. Bà Đ đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự là đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông H khởi kiện yêu cầu ông T và bà N trả nợ vay, quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quy định tài khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn cư trú tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Ông T và bà N được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[1.3] Về sự thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn ông H không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của ông H.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Toà án đã tống đạt đầy đủ giấy triệu tập, thông báo phiên họp, thông báo thụ lý vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác cho ông T và bà N nhưng ông T và bà N không có phản hồi nên căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Theo giấy vay tiền ngày 20/7/2021 và giấy vay tiền ngày 20/7/2022 thì ông T và bà N có vay của ông H số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn trả nợ vay là 20/7/2023.
Xét quá trình vay:
Ông H thừa nhận tuy trong giấy vay tiền không ghi lãi suất nhưng thực tế giữa 02 bên có thỏa thuận trả tiền lãi, ông T và bà N có trả cho ông tiền lãi tháng 8, 9, 10/2021 mỗi tháng 9.000.000 đồng, sau đó không trả nữa.
Số tiền lãi mỗi tháng 9.000.000 đồng, tương đương lãi suất 9.000.000 đồng/350.000.000 đồng x 100% = 2,57%/tháng, tương đương 30,86%/năm. Mức lãi suất này là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, vượt quá mức lãi suất 20%/năm. Do vậy, cần điều chỉnh mức lãi suất theo thỏa thuận của các bên còn 1.66%/tháng.
Do từ tháng 8/2021 đến tháng 10/2021, ông T bà N trả cho ông H số tiền lãi là 9.000.000 đồng/tháng, số tiền lãi này vượt quá mức lãi suất theo quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao, số tiền gốc sẽ được tính lại như sau:
Tiền lãi của tháng 8/2021: 350.000.000 đồng x 20%/12tháng = 5.833.333 đồng.
Do ông T bà N đã đóng tiền lãi cho ông H 9.000.000 đồng nên số tiền lãi đã trả vượt quá là 3.166.667 đồng, số tiền này được trừ vào nợ gốc. Như vậy, tính đến tháng 8/2021, ông T bà N còn nợ ông H số tiền gốc là 350.000.000 đồng – 3.166.667 đồng = 346.833.333 đồng.
Tiền lãi của tháng 9/2021: 346.833.333 đồng x 20%/12tháng = 5.780.556 đồng
Do ông T bà N đã đóng tiền lãi 9.000.000 đồng nên số tiền lãi đã trả vượt quá là 3.219.444 đồng, số tiền này được trừ vào nợ gốc. Như vậy, tính đến tháng 9/2021, ông T bà N còn nợ ông H số tiền gốc là 346.833.333 – 3.219.444 đồng = 343.613.889 đồng.
Tiền lãi của tháng 10/2021: 343.613.889 đồng x 20%/12tháng = 5.726.898 đồng
Do ông T bà N đã đóng tiền lãi 9.000.000 đồng nên số tiền lãi đã trả vượt quá là 3.273.102 đồng, số tiền này được trừ vào nợ gốc. Như vậy, tính đến ngày 10/2021, T bà N còn nợ ông H số tiền gốc là 343.613.889 đồng – 3.273.102 đồng = 340.340.787 đồng.
Như vậy, tính đến ngày 20/7/2023, hợp đồng vay hết thời hạn, ông T bà N còn nợ ông H tiền gốc là 340.340.787 đồng.
Từ các căn cứ trên, có cơ sở xác, số tiền gốc ông T bà N còn nợ ông H khi hết hạn hợp đồng vào ngày 20/7/2022 là 340.340.787 đồng.
Căn cứ Điều 463, 466 BLDS2015, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông H yêu cầu ông T bà N có nghĩa vụ phải cho ông H số tiền vay còn nợ là 340.340.787 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận nên ông T bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 340.340.787 đồng x 5% = 17.017.039 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
- Trả lại cho ông H 8.750.000 đồng số tiền tạm ứng án phí 8.750.000 đồng ông H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006190 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức
Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ;
- - Các điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015;
- - Điều 9 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tôi cao
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc H, buộc ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị N phải trả cho ông H số tiền là 340.340.787 đồng (ba trăm bốn mươi triệu ba trăm bốn mươi ngàn bảy trăm tám mươi bảy đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.017.039 đồng (mười bảy triệu không trăm mười bảy ngàn không trăm ba mươi chín đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
- - Trả lại cho ông Phạm Ngọc H số tiền tạm ứng án phí 8.750.000 đồng mà ông H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006190 ngày 31/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tài khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thu Hiền |
Bản án số 2355/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 2355/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
