|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2354/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07-6-2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Ông Mai Thanh Giàu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc H - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 3124/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2213/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 2936/2024/QĐST-HNGĐ ngày ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương L
Địa chỉ: 3 đường C, tổ B, khu phố F, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Văn T.
Địa chỉ: 3 đường C, tổ B, khu phố F, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Phương L trình bày:
Bà Lê Thị Phương L và ông Lê Văn T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyền số 01/2006 ngày 06/02/2006. Đến năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà L yêu cầu Tòa án giai quyết cho bà L được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà L trình bày bà và ông T có 02 người con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 10/4/2008 và Lê Ngọc Gia H1, sinh ngày 07/3/2017. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Bà L trình bày bà và ông T có tài sản chung nhưng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: Bà L trình bày bà và ông T không có nợ chung.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lê Văn T đến Tòa án để làm bản tự khai, tham gia phiên họp về việc kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T đều văng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà L vắng mặt.
Bị đơn ông T vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Phương L được ly hôn với ông Lê Văn T; Về con chung: bà L trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 10/04/2008 và Lê Ngọc Gia H1, sinh ngày 07/3/2017. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án nếu có đương sự có yêu cầu. Án phí hôn nhân và gia đình bà L phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn là ông Lê Văn T, sinh năm: 1984, cư trú tại: 3 đường C, tổ B, khu phố F, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Bà L đề nghị xét xử vắng mặt, ông T được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử văng mặt bà L và ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của các đương sư và các tài liệu có trong hồ sơ thì bà L và ông T đã chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyền số 01/2006, ngày 06/02/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hợp pháp.
Xét quá trình sống chung giữa các bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông T đến Tòa án để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện, ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng.
Do đó, việc bà L yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Có 02 người con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 10/4/2008 và Lê Ngọc Gia H1, sinh ngày 07/3/2017
Các trẻ sống chung với bà L và ông T, do bà L và ông T cùng nhau chăm sóc. Bà L trình bày nếu ông T mong muốn được nuôi 02 con và chăm sóc tốt cho 02 con thì bà cũng đồng đồng ý giao cho ông T nuôi. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông T không đến Tòa án, không có ý kiến phàn hồi gì về yêu cầu nuôi con chung, điều đó thể hiện ông T không quan tâm đến vấn đề chăm lo cho các con chung. Do vậy, việc giao các con chung Lê Nhật M và Lê Ngọc Gia H1 cho bà L nuôi dưỡng sẽ tốt hơn cho phát triển ổn định về thể chất, tinh thần cho các trẻ. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu được nuôi 02 con chung của bà L là có cơ sở chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà L trình bày có tài sản chung nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông T không có ý kiến phản hồi của ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét mà tách ra giải quyết thành vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về nợ chung: Bà L không có nhưng không có ý kiến phản hồi của ông T nên Hội đồng xét xử không xem xét mà tách ra giải quyết thành vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Phương L và ông Lê Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyền số 01/2006, ngày 06/02/2006 do Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình cấp cho bà Lê Thị Phương L và ông Lê Văn T không còn giá trị pháp lý.
- Về nuôi con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Nhật M, sinh ngày 10/4/2008 và Lê Ngọc Gia H1, sinh ngày 07/3/2017 cho bà Lê Thị Phương L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con..
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, về nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Phương L phải nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Phương L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000073 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phô Thủ Đức. Bà Lê Thị Phương L đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thu Hiền |
Bản án số 2354/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 2354/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
