Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 235/2024/HS-ST

Ngày: 29/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
  2. Ông Võ Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh L - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 221/2024/TLST/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Thị L1 (tên gọi khác: không), sinh năm 1971, tại: Cà Mau; Thường trú: Ấp P, T, Đ, Bình Phước; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ; Mẹ: Nguyễn Thị N (chết); Có chồng và 03 người con (lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 2005); Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 07/11/2023.

(Bị cáo Trần Thị L1 có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Nhà trọ không số, đường số A, khu phố D, phường T, thành phố T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/11/2023, Trần Thị L1 đến nhà trọ của bà Bùi Thị T (tên gọi khác: T1) tại địa chỉ Nhà trọ không số, đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chơi và xin ở nhờ (do trước đây L1 từng thuê trọ nhà bà T). Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, lợi dụng lúc bà T đang ngủ trưa và xung quanh không có ai, L1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà T. L1 đi đến gần xe mô tô biển số 83F1-114.20 của bà T đang dựng trong sân của khu dãy trọ, lấy chìa khóa xe để ở ba-ga xe, mở cốp xe, mở ví da bên trong cốp xe lấy một xấp tiền có giá trị 1.800.000 đồng bỏ vào túi xách cá nhân của L1 đang đeo trên người. Sau đó, L1 ra quán cà phê M (nằm chung khuôn viên Nhà trọ không số, đường A, khu phố D, phường T, thành phố T) ngồi chơi. Đến khoảng 24 giờ 00 phút cùng ngày, L1 phát hiện bà T đi ra ngoài dãy trọ nên L1 đi vào nhà trọ của bà T, đến tủ cấp đông (đã bị hư hỏng, sử dụng để đựng quần áo) để trước cửa phòng trọ không số của bà T rồi mở nắp tủ lạnh cấp đông, lục tìm bên trong thấy có xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng, L1 rút trong xấp tiền ra 24 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (tổng giá trị là 12.000.000 đồng), L1 tiếp tục thấy bên trong tủ cấp đông có một túi xách màu đen, L1 mở ra kiểm tra thì thấy có một xấp tiền có giá trị 13.500.000 đồng được gấp đôi lại nên L1 lấy bỏ vào túi xách cá nhân. Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05/11/2023, L1 mang theo túi xách đựng tiền đã lấy trộm được về phòng trọ của L1 tại Nhà không số, đường Ố, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu trong tủ quần áo bên trong phòng trọ. Tổng số tiền L1 lấy trộm được là 27.300.000 đồng.

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/11/2023, L1 tiếp tục quay lại Nhà trọ không số, đường số A, khu phố D, phường T, thành phố T để chơi và ăn trưa cùng bà T. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, lợi dụng lúc bà T đang ngủ, L1 tiếp tục lấy trộm 900.000 đồng trong cốp xe mô tô biển số 83F1-114.20 của bà T. Sau đó, L1 quay lại quán cà phê M ngồi chơi. Khoảng 24 giờ cùng ngày, L1 thấy bà T đi ra ngoài nên L1 đi đến tủ cấp đông hư lần trước, mở nắp tủ, lục tìm trong tủ thấy có xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng, L1 rút trong trong xấp tiền ra 79 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (tổng giá trị là 39.500.00 đồng) rồi bỏ vào trong túi xách của L1. Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 06/11/2023, L1 mang theo túi xách đựng tiền lấy trộm được về phòng trọ của L1 tại Nhà không số, đường C, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu trong tủ quần áo. Số tiền 900.000 đồng lấy trong cốp xe bà T, L1 tiêu xài cá nhân hết. Tổng số tiền L1 lấy trộm được là 40.400.000 đồng

Sáng ngày ngày 06/11/2023, bà T kiểm tra tủ cấp đông thì phát hiện bị mất trộm tiền. Qua kiểm tra camera, bà T thấy L1 là người lấy trộm tiền trong cốp xe mô tô biển số 83F1-114.20 và trong tủ cấp đông nên bà T gọi điện cho L1 để nói chuyện bị mất trộm tiền, L1 thừa nhận đã lấy trộm tiền của bà T tổng số tiền 67.700.000 đồng nên đã bà T đã đến Công an phường T, thành phố T trình báo sự việc.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin từ Công an phường T, thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L1 tại Nhà không số, đường Ố, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thu giữ 65.000.000 đồng (gồm 130 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng) L1 khai là tiền L1 lấy trộm của bà Bùi Thị T và 2.300.000 đồng (gồm 06 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 19 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 132 tờ mệnh giá 10.000 đồng) là tiền cá nhân của L1.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Thị L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Đồng thời, L1 khai đã lấy 2.700.000 đồng trong số tiền đã trộm cắp được của bà T để tiêu xài cá nhân.

Tại bản Cáo trạng số 235/CT-VKS.TPTĐ ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Trần Thị L1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Thị L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thị L1 về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải theo các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Thị L1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Phần dân sự và vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thị L1 không tranh luận, bào chữa.

Lời sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị L1 phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” do Trần Thị L1 thực hiện tại Nhà trọ không số, đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể như sau: Lần thứ nhất: Vào ngày 04/11/2023, Trần Thị L1 đã lén lút lấy trộm tổng số tiền 27.300.000 đồng. Lần thứ hai: Vào ngày 05/11/2023, L1 đã lén lút lấy trộm tổng số tiền 40.400.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ, xử lý. Tổng số tiền Trần Thị L1 chiếm đoạt của bà Bùi Thị T là 67.700.000 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị L1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bùi Thị T đã nhận lại số tiền 67.300.000 đồng và không yêu cầu bồi thường số tiền còn thiếu 400.000 đồng mà L1 đã lấy trộm của bà T nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 65.000.000 đồng (gồm: 130 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 500.000 đồng). Ngày 08/02/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền trên cho bà Bùi Thị T.
  • Số 2.300.000 đồng (gồm: 06 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 100.000 đồng; 19 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 20.000 đồng, 132 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 10.000). L1 tự nguyện khắc phục số tiền 2.300.000 đồng cho bà Bùi Thị T. Ngày 08/02/2024, Cơ quan điều tra đã giao số tiền trên cho bà T.
  • 01 USB ghi nhận nội dung vụ án, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • Tuyên bố bị cáo Trần Thị L1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị L1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2023.

  • Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Thị L1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại sự việc xảy ra.

  • Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND, CA, Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 235/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger