Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 235/2024/HS-ST

Ngày 28-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nự, Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 864/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Huy H, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2002 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Duy A và bà Phạm Thị S; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 04/6/2024, tạm giam ngày 12/6/2024; có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Đức T, sinh năm 1998; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số B A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu nên Phạm Huy H nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 02 giờ ngày 05/5/2024 H đi bộ một mình đến số A N, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng thì phát hiện xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 màu trắng, BKS: 15K-269.51 của anh Phạm Đức T, sinh năm 1992, đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng đỗ trên vỉa hè trước nhà. H dùng tay kéo cánh cửa trước bên phải của xe ô tô, thấy không khóa nên mở cửa, ngồi vào ghế phụ đóng cửa lại. H dùng đèn màn hình điện thoại di động của Hoàng soi kiểm tra thấy tại hốc để đồ gần cần số, giữa hai ghế lái và ghế phụ có số tiền 2.370.000 đồng (hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). H lấy hết tiền cho vào túi đeo chéo trên người rồi xuống xe đóng cửa lại. Số tiền trộm cắp được H đi chơi điện tử và tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 02 giờ ngày 04/6/2024, H tiếp tục quay lại nhà số A N với mục đích trộm tài sản. H thấy xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 màu trắng, BKS: 15K-269.51 của anh Phạm Đức T vẫn đỗ trước cửa nhà, H dùng tay mở cánh cửa trước bên phải của ô tô nhưng cửa bị khóa không mở được, Hoàng bỏ đi thì bị người dân và anh T phát hiện đưa đến Công an phường K để trình báo sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L thu giữ của H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 01 con dao gấp, 01 cặp xách màu đen, 01 ví màu nâu, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ngân hàng A1 (đều mang tên Phạm Huy H), số tiền 23.000 đồng. Anh Phạm Đức T giao nộp cho Cơ quan Công an 01 USB chứa video H trộm cắp tài sản ngày 05/5/2024 và ngày 04/6/2024.

Kết luận giám định số 2504/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tập tin “5506122502686.mp4" và tập tin “5506123252470.mp4” được lưu trong USB nhãn hiệu Kingston 1GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không đủ cơ sở kết luận có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không do các tập tin được ghi lại từ màn hình của thiết bị ghi hình khác. Tập tin “5530848674266.mp4" được lưu trong USB nhãn hiệu Kingston 1GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Tại bản cáo trạng số 240/CT-VKSLC ngày 12 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên và khai bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng. Bị cáo đã tác động gia đình giúp bị cáo bồi thường số tiền 2.370.000 đồng cho anh Phạm Đức T. Đối với chiếc điện thoại di động bị thu giữ bị cáo đã dùng đèn của điện thoại soi, lục tìm tài sản trộm cắp trên xe ô tô của anh T ngày 05/5/2024; đối với con dao bị cáo mang theo người để phòng thân vì bị cáo thường xuyên đi chơi đêm chứ không có ý định sử dụng để tấn công, chống trả người khác khi bị phát hiện trộm cắp tài sản.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Huy H mức án từ 06 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Đức T đã được nhận lại số tiền 2.370.000 đồng do bị cáo tác động gia đình (ông Phạm Duy A, bố đẻ của bị cáo) bồi thường, bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao gấp thu giữ của bị cáo;

- Trả lại bị cáo 01 cặp xách màu đen có ghi nhãn hiệu GUCCI; 01 ví màu nâu có ghi nhãn hiệu JULIZEON; số tiền 23.000đ, 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ngân hàng A1 số 139602314221094407004512 đều mang tên Phạm Huy H.

Đối với 01 USB do anh Phạm Đức T giao nộp lưu trữ các video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Huy H và 01 đĩa CD ghi âm, ghi hình được lưu tại hồ sơ vụ án; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
  2. Đối với việc người bị hại có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt; đối chiếu Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

- Về hành vi Trộm cắp tài sản:

  1. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Hồi 02 giờ ngày 05/5/2024, Phạm Huy H có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 2.370.000 đồng của anh Phạm Đức T để trên xe ô tô đỗ trước cửa nhà số A N, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Huy H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  2. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.
  3. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, mặc dù ngày 04/6/2024 bị cáo chưa thực hiện được hành vi phạm tội nhưng qua đo cho thấy bị cáo chuyên đi lang thang tìm sơ hở để trộm cắp.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  1. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. Số tiền bị cáo đã trộm cắp không lớn; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền bị cáo đã trộm cắp cho bị hại; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bản thân bị cáo đã có thời gian tham gia quân đội được xuất ngũ về địa phương; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.

- Về hình phạt áp dụng:

  1. Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, tương xứng với động cơ, mục đích, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.

- Về trách nhiệm dân sự:

  1. Số tiền 2.370.000đ anh Phạm Đức T bị mất đã được gia đình bị cáo bồi thường đầy đủ, anh không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm; nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

  1. Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus; xét chiếc điện thoại bị cáo dùng làm công cụ dùng vào việc phạm tội, đối chiếu điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
  2. Đối với 01 con dao gấp thu giữ của bị cáo, xét đây là vật cấm lưu hành; đối chiếu điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần tịch thu tiêu huỷ, phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
  3. Đối với 01 cặp xách màu đen có ghi nhãn hiệu GUCCI; 01 ví màu nâu có ghi nhãn hiệu JULIZEON; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ngân hàng A1 số 139602314221094407004512 đều mang tên Phạm Huy H và số tiền 23.000 đồng, tài liệu điều tra chứng minh bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội và là tài sản cá nhân của bị cáo; đối chiếu điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên trả lại bị cáo phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
  4. Đối với 01 USB lưu trữ các Video ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Huy H và 01 đĩa CD ghi âm, ghi hình được lưu tại hồ sơ vụ án; nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

- Về án phí:

  1. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo luật định.

- Về quyền kháng cáo:

  1. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Phạm Huy H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 6 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus thu giữ của bị cáo;

Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao gấp thu giữ của bị cáo;

Trả lại bị cáo số tiền 23.000 đồng, 01 cặp xách màu đen có ghi nhãn hiệu GUCCI; 01 ví màu nâu có ghi nhãn hiệu JULIZEON; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 thẻ ngân hàng A1 số 139602314221094407004512 đều mang tên Phạm Huy H.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và và Ủy nhiệm chi số 74/2024/QĐ-CALC(HTTP) ngày 18/9/2024 giữa Công an quận L và Kho bạc nhà nước quận L).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Quận Lê Chân + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Người bị hại;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp Hải Phòng;
  • - UBND xã Đại Đồng, H. Kiến Thuỵ, Tp. Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 235/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Huy H - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger