|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 235/2024/HS-ST Ngày: 25 - 4 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Văn
Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Vũ Lâm
Ông Lê Văn Bình
Ông Lê Phú Hợp
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 689/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Minh C, sinh ngày: 1987, tại Sơn La; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H và bà Trần Thị N; Vợ: Tòng Thị T, có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Nhân thân:
- - Bản án hình sự sơ thẩm số 197/2007/HSST ngày 15/11/2007 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2016/HSST ngày 24/10/2016 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/06/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (Có mặt)
Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Quang T1 - Văn phòng L1; thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 17/6/2023, Tổ công tác Đội CSĐTTP về kinh tế ma tuý phối hợp với Công an xã C làm nhiệm vụ tại thôn V, xã C, huyện B, Hà Nội, phát hiện Lê Minh C đứng trên vỉa hè, cạnh xe ô tô hiệu Toyota VIOS màu bạc, BKS 30H – 895.25 đang dừng đỗ, có biểu hiện nghi vẫn. Tổ công tác đã kiểm tra trên xe có: anh Nguyễn Khắc V (sinh năm 1993, trú tại thôn H, xã V, huyện H, Hà Nội) lái xe ô tô, chị Nguyễn Thị Bích P (sinh năm 1974, trú tại số A ngách G T, phường P, quận B, Hà Nội) và cháu Nguyễn Vũ Thủy T2 (sinh năm 2014, con gái của P) đang ngồi trên xe. Tổ công tác đã bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của Lê Minh C 01 túi nylon màu trắng xanh, bên trong đựng 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng, C khai là ma tuý đá đang chờ khách đến để giao bán. Ngoài ra còn thu giữ của Lê Minh C 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, lắp sim số 0987243987, số tiền 245.000đ (Hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Kết luận giám định số 4109/KL - KTHS, ngày 25/6/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nylon (để bên trong 01 túi nylon màu trắng – xanh) là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 112,600 gam.
* Tại cơ quan điều tra Lê Minh C khai: Khoảng năm 2010 qua quan hệ xã hội C quen người đàn ông tên D (khoảng 40 tuổi, ở bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La) bán ma tuý, C đã 2 lần mua ma tuý của D, cụ thể:
- - Lần 1 khoảng tháng 4/2023, C mua của đối tượng Dơ 01 lạng ma tuý “đá” với giá 27.000.000đ, sau đó C bán số ma tuý “đá” trên cho đối tượng Bùi Tuấn A (sinh năm 1980, trú tại P304 A8, phố A, phường Y, quận T, Hà Nội) với giá 50.000.000₫.
- - Lần 2 ngày 15/6/2023, C mua của đối tượng Dơ 01 túi ma tuý “đá” với giá 27.000.000₫ mang xuống Hà Nội tìm khách bán lại kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 16/6/2023, khi C đang ở nhà nghỉ M trên đường T, phường P, quận B, Hà Nội thì nhận được điện thoại của đối tượng Nguyễn Văn A1 (sinh năm 1984, ở huyện B, Hà Nội – bạn xã hội quen khi đi cải tạo tại Trại giam T3 – Bộ C3) sử dụng số điện thoại 0395.526.xxx gọi đến số 0981243987 của C hỏi mua 01 lạng ma tuý “đá” với giá 47.000.000đ, C đồng ý và hẹn giao nhận ma tuý tại huyện B, Hà Nội. Sau đó C lấy túi ma tuý “đá” trong balo của C giấu vào túi quần rồi đến nhà P1 bạn xã hội, hỏi mượn xe máy của P để lên B bán ma tuý cho khách nhưng do P phải đi đón cháu Nguyễn Vũ Thủy T2 tại Trung tâm H1, phường X, quận N, Hà Nội, quãng đường di chuyển cùng đường nên P bảo C đi cùng. Trên đường đi do trời mưa, C, P, T2 vào quán nước ven đường trú mưa nhưng không tạnh nên C đặt xe taxi qua ứng dụng GD Driver. Khoảng 10 phút sau, anh Nguyễn Khắc V – lái xe ô tô hiệu Toyota VIOS màu bạc, BKS 30H – 895.25 đón, chở C, Nguyễn Thị Bích P, Nguyễn Vũ Thủy T2 khi đến khu vực siêu thị Lực Tiến, xã C, huyện B, Hà Nội. Tại đây, V, P, T2 ngồi trên xe ô tô đợi, còn C xuống xe đứng trên vỉa hè chờ bán ma tuý cho khách bị kiểm tra, bắt giữ. Lê Minh C khai anh Nguyễn Khắc V, Nguyễn Thị Bích P không biết, không liên quan việc mua bán trái phép chất ma tuý của C.
Anh Nguyễn Khắc V, Nguyễn Thị Bích P khai phù hợp lời khai của Lê Minh C về việc không biết, không liên quan việc mua bán trái phép chất ma tuý của C.
- * Căn cứ tài liệu thu giữ bản kê chi tiết cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn số 0981243987 của bị can Lê Minh C xác định:
- - Ngày 17/6/2023, số điện thoại 0981.243.xxx của bị can Lê Minh C liên lạc với số điện thoại 0395.526.xxx của đối tượng A1 39 cuộc, vào hồi từ 08h34’ đến 19h58'.
- - Ngày 17/6/2023, số điện thoại 0981.243.xxx của bị can Lê Minh C liên lạc với số điện thoại 0388.840.xxx của Nguyễn Khắc V 03 cuộc, vào hồi 18h34'; 18h40'; 18h44'.
- Phù hợp lời khai của bị can Lê Minh C, Nguyễn Khắc V về diễn biến của sự việc.
- * Về đối tượng Bùi Tuấn A, quá trình điều tra xác định, ngày 08/6/2023 Bùi Tuấn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P bắt, khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bùi Tuấn A khai khoảng tháng 3/2023, qua bạn xã hội Bùi Tuấn A quen Lê Minh C, đến tháng 4/2023, C đến nhà Tuấn A chơi nhưng Tuấn A không mua bán ma tuý với C. Ngoài lời khai của Lê Minh C, không có tài liệu chứng cứ nào khác, do đó chưa đủ căn cứ xác định Bùi Tuấn A mua bán trái phép chất ma tuý với Lê Minh C.
- * Xác minh tại nhà nghỉ M, đường T, phường P, quận B, Hà Nội xác định: Hồi 15 giờ ngày 16/6/2023, Lê Minh C thuê phòng tại nhà nghỉ M do anh Nguyễn Khắc C1 là chủ nhà nghỉ, đến khoảng 17 giờ cùng ngày C1 trả phòng, thanh toán số tiền 140.000đ, phù hợp lời khai của bị can Lê Minh C.
- * Về người mua ma tuý của Lê Minh C là đối tượng Nguyễn Văn A1, dùng số 0395526215, sinh năm 1984, trú tại huyện B, Hà Nội chấp hành án phạt tù về tội Giết người, cải tạo tại Đội 37, phân trại 3. Xác minh tại Trại giam T3 – Bộ C3 không có phạm nhân Nguyễn Văn A1 nêu trên. Xác minh số điện thoại 0395.526.xxx, chủ thuê bao mang tên Công ty TNHH H2, tại thôn M, xã Y, huyện B, Hà Nội. Xác minh tại xã Y không có Công ty trên hoạt động. Do vậy Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng Nguyễn Văn A1.
- * Về người bán ma tuý cho Lê Minh C là đối tượng D, do C không khai rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ.
Tại Cáo trạng số 691/CT-VKSHN-P1 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lê Minh C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Lê Minh C đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội quy kết và xin giảm nhẹ mức hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Sau khi luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Minh C 20 năm tù.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo 01 điện thoại di động. Trả bị cáo 245.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
- Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Minh C: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số ma túy đã được thu hồi không bị phát tán ra bên ngoài; nên đề nghị áp đụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã xuất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 17/6/2023, Tổ công tác Đội CSĐTTP về kinh tế ma tuý phối hợp với Công an xã C làm nhiệm vụ tại thôn V, xã C, huyện B, Hà Nội, phát hiện Lê Minh C đứng trên vỉa hè, cạnh xe ô tô hiệu Toyota VIOS màu bạc, BKS 30H – 895.25 đang dừng đỗ, có biểu hiện nghi vẫn. Tổ công tác đã kiểm tra trên xe có: anh Nguyễn Khắc V (sinh năm 1993, trú tại thôn H, xã V, huyện H, Hà Nội) lái xe ô tô, chị Nguyễn Thị Bích P (sinh năm 1974, trú tại số A ngách G T, phường P, quận B, Hà Nội) và cháu Nguyễn Vũ Thủy T2 (sinh năm 2014, con gái của P) đang ngồi trên xe. Tổ công tác đã bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của Lê Minh C 01 túi nylon màu trắng xanh, bên trong đựng 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng, C khai là ma tuý đá đang chờ khách đến để giao bán. Tại Kết luận giám định số 4109/KL - KTHS, ngày 25/6/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nylon (để bên trong 01 túi nylon màu trắng – xanh) là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 112,600 gam.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo bị cáo Lê Minh C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Về hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hành vi của bị cáo Lê Minh C đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu; đã từng bị xử 02 lần về tội phạm cùng loại nên phải áp dụng hình phạt tù theo Điều 38 Bộ luật Hình sự, để xử phạt nghiêm khắc bị cáo.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cũng xem xét bị cáo Lê Minh C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo C không có nghề nghiệp ổn định nên chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về nội dung khác:
Về đối tượng Bùi Tuấn A: Quá trình điều tra xác định, ngày 08/6/2023 Bùi Tuấn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P bắt, khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bùi Tuấn A khai khoảng tháng 3/2023, qua bạn xã hội Bùi Tuấn A quen Lê Minh C, đến tháng 4/2023, C đến nhà Tuấn A chơi nhưng Tuấn A không mua bán ma tuý với C. Ngoài lời khai của Lê Minh C, không có tài liệu chứng cứ nào khác, do đó chưa đủ căn cứ xác định Bùi Tuấn A mua bán trái phép chất ma tuý với Lê Minh C.
Về đối tượng Nguyễn Văn A1: Lê Minh C khai người mua ma tuý của C là Nguyễn Văn A1, dùng số 0395526215, sinh năm 1984, trú tại huyện B, Hà Nội chấp hành án phạt tù về tội Giết người, cải tạo tại Đội 37, phân trại 3. Xác minh tại Trại giam T3 – Bộ C3 không có phạm nhân Nguyễn Văn A1 nêu trên. Xác minh số điện thoại 0395.526.xxx, chủ thuê bao mang tên Công ty TNHH H2, tại thôn M, xã Y, huyện B, Hà Nội. Xác minh tại xã Y không có Công ty trên hoạt động. Do vậy không xác định được đối tượng Nguyễn Văn A1 và không có căn cứ để xử lý.
Về đối tượng D: Lê Minh C khai người bán ma tuý cho C là đối tượng D, do C không khai rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, nên không có cơ sở để làm rõ.
[5] Về vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone màu hồng, số imei: 356112094977157, vỡ mặt sau, vỡ màn hình, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng hoạt động máy (bên trong lắp 01 sim) của Lê Minh C được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 245.000 đồng của Lê Minh C không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- Còn lại là các đồ vật không có giá trị sử dụng và chất ma túy là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Minh C: 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của các thành phần gốm: Lê Minh C, Nguyễn Khắc V, Nguyễn Thị Bích P, cán bộ Nguyễn Bắc L và giám định viên Trần Ngọc C2.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Iphone màu hồng, số imei: 356112094977157, vỡ mặt sau, vỡ màn hình, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng hoạt động máy (bên trong lắp 01 sim) của Lê Minh C.
- - Trả lại cho Lê Minh C: Số tiền 245.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Số tiền đang ở trong tài khoản số 3949.0.1052728 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội tại Kho bạc Nhà nước quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 12/12/2023)
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Văn |
Bản án số 235/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 235/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh C phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
