TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 235/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 8 - 2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bé
Ông Hoàng Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trung Hưng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)
HKTT: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ ở nước ngoài: huyện B, thành phố C, Đài Loan.
- Người đại diện nhân dân văn tố tụng và đại diện theo ủy quyền giải quyết vấn đề con chung của chị N: Bà Lê Thị T, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1990 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị T, sinh năm 1962 (xin vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai chị Nguyễn Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn Q kết hôn với nhau ngày 10/3/2015 trên cơ sở tình cảm đôi bên và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và đã có 02 con chung. Năm 2021 chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, sau đó vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, không hòa thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, không cùng chung chí hướng. Đến nay giữa chị và anh Hoàng Văn Q không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Hoàng Văn Q được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Bảo T1, sinh ngày 23/11/2015 và Hoàng Bá Đ, sinh ngày 14/12/2017. Hiện nay chị đang đi lao động tại nước ngoài nên hai cháu đang sinh sống cùng anh Q. Do điều kiện chị phải đi làm ở xa, không có điều kiện chăm con nên khi Tòa án giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án giao cháu T1 và cháu Đ cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con sẽ tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này. Trường hợp anh Hoàng Văn Q có ý kiến không nuôi con thì chị đề nghị Tòa án giao con cho chị được quyền nuôi con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Hoàng Văn Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N kết hôn với nhau năm 2015 và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện L. Chị N đã đi xuất khẩu lao động nên vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau. Vừa qua khi chị N về thăm nhà nhưng vợ chồng đã sống ly thân nên anh đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Bảo T1, sinh ngày 23/11/2015 và Hoàng Bá Đ, sinh ngày 14/12/2017. Khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu T1 cho chị N nuôi dưỡng và giao cháu Đ cho anh nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N, vừa qua chị N đã tiếp tục sang Đài Loan lao động. Vợ chồng chị N và anh Q có 02 con chung là cháu Hoàng Bảo T1, sinh ngày 23/11/2015 và Hoàng Bá Đ, sinh ngày 14/12/2017. Hiện nay cháu Đ đang ở cùng anh Q, còn cháu T1 hiện đang ở cùng bà. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn của chị N và anh Quảng b đề nghị Tòa án giao cháu Hoàng Bá Đ cho anh Hoàng Văn Q nuôi dưỡng. Đối với cháu Hoàng Bảo T1 đề nghị Tòa án giao cho chị N nuôi dưỡng, bà đồng ý và đề nghị Tòa án tạm giao cháu T1 cho bà chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị N ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi các cháu gia đình sẽ tự thống nhất nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã làm việc với cháu Hoàng Bảo T1 cháu có ý kiến muốn được ở với mẹ và mong muốn tiếp tục ở với bà ngoại.
* Tại phiên tòa, các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của các đương sự và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N. Xử:
Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn Q.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Bá Đ cho anh Hoàng Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Hoàng Bảo T1 cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Lê Thị T nuôi dưỡng trong thời gian chị N ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị N là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Đài Loan có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Hoàng Văn Q. Căn cứ Công văn số 16582/QLXNC-P3 ngày 25/7/2024 của Cục Q1 - Bộ C xác định chị Nguyễn Thị N đã xuất cảnh ngày 07/7/2024. Bị đơn anh Hoàng Văn Q là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Hoàng Văn Q kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/3/2015 tại UBND xã B, huyện L nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh Q. Xem xét đơn khởi kiện của chị N, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Bản thân chị N hiện nay đang lao động tại nước ngoài, vợ chồng xa cách địa lý và sống ly thân. Anh Q cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị N được ly hôn với anh Q.
[4]. Về nuôi con chung: Chị N và anh Q có 02 con chung là cháu Hoàng Bảo T1, sinh ngày 23/11/2015 và Hoàng Bá Đ, sinh ngày 14/12/2017. Cháu T1 hiện nay đang ở cùng bà ngoại là Lê Thị T, còn cháu Đ hiện đang ở cùng anh Q. Chị N và anh Q đều có ý kiến thống nhất giao cháu Đ cho anh Q nuôi dưỡng và giao cháu T1 cho chị N nuôi dưỡng. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của các cháu căn áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho cháu Đ được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đ. Giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu T1. Do hiện nay chị N đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu T1 cho bà Lê Thị T chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị N ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Hoàng Văn Q.
2. Về con chung: Giao Hoàng Bá Đ, sinh ngày 14/12/2017 cho anh Hoàng Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Giao cháu Hoàng Bảo T1, sinh ngày 23/11/2015 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Lê Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Nguyễn Thị N về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001364 ngày 03/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị N hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Hoàng Văn Q và bà Lê Thị T cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án
được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 235/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 235/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyện ly hôn Quảng
